Xem Nhiều 1/2023 #️ Vì Sao Người Trung Quốc Ngày Càng Trở Nên Thiếu Văn Minh? # Top 6 Trend | Namtranpharma.com

Xem Nhiều 1/2023 # Vì Sao Người Trung Quốc Ngày Càng Trở Nên Thiếu Văn Minh? # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Vì Sao Người Trung Quốc Ngày Càng Trở Nên Thiếu Văn Minh? mới nhất trên website Namtranpharma.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Những người lớn không chịu lớn

Câu chuyện mở rộng sang các hành vi khác nữa, như một số người thích vứt rác ở bất kỳ đâu mà họ thích. Hay như vụ việc cách đây không lâu bên trong cửa hàng IKEA Tây Hồng Môn, do thời tiết nóng bất thường, nhiều người dân đã lũ lượt kéo vào đây, nằm ngồi trên hàng mẫu trưng bày, người thì trợn mắt ngoác mồm, người lại ngả ngốn lướt internet. Quá đáng hơn nữa, có cha mẹ để con cái mông trần lăn lộn trên giường ngủ trắng sạch vốn là hàng mẫu, thậm chí một vài đứa trẻ biến giường thành tấm bạt lò xo để chơi đùa.

Có người nói: “ban đầu tôi đến IKEA để mua đồ nội thất. Tôi thấy một cô lớn tuổi mặc đồ ngủ nằm trên ghế sofa, nên tôi nhất thời tưởng mình nhầm lẫn đã đi nhầm vào phòng khách nhà cô ấy”. Còn có cặp đôi kia nằm dài trên ghế, tình tứ ôm nhau như chốn không người. Tác giả Sát Phương đã nhận định rằng những việc làm này không chỉ ảnh hưởng đến người khác ở nơi công cộng mà đây còn là thể hiện của việc thiếu hụt tu dưỡng đạo đức cơ bản nhất.

Hành động thiếu văn hóa tại những nơi công cộng hiện nay đã là hiện tượng phổ biến ở Trung Quốc (ảnh: Presa).

Lâm Ngữ Đường từng nói: “Một số người Trung Quốc chỉ biết gia đình mình, họ không biết xã hội mình. Không có ý thức công cộng, càng không được dạy dưỡng về ý thức công cộng”.

Tác giả Sát Phương cho rằng, những cảnh sau đây giờ đã không hề hiếm trong xã hội Trung Quốc: Bật nhạc thật to khi đang đi trên tàu điện ngầm cùng biết bao nhiêu người, để chuông điện thoại hoặc thậm chí nói chuyện trong khi đang xem phim trong rạp, trẻ em la hét đạp thình thịch vào ghế đằng trước khi đi máy bay mà người lớn không dạy bảo hoặc xin lỗi người bị làm phiền…

Tác giả bài viết trên Khán Trung Quốc đã phải cảm thán: “Quá nhiều người Trung Quốc đại lục, vì lợi ích của chính họ, từ lâu đã mất đi tố chất cần thiết cùng sự văn minh. Càng đáng sợ hơn, là họ cũng không nhận ra hành vi của mình là sai. Họ giữ tâm lý của những đứa trẻ lớn, tự lấy mình làm trung tâm, coi sự thô lỗ như dũng cảm, nhổ nước bọt như vinh quang”.

Trên một chuyến tàu điện ngầm An Huy, Hợp Phì, có một vị đại gia một mình chiếm 4 chỗ ngồi. Trước bao người, ông này cởi giày và nằm xuống ghế, bất kể bên cạnh có một cô gái trẻ. Một thanh niên nhìn thấy, không trực tiếp lên án nhưng lịch sự bước tới hỏi: “Bác khó chịu trong người ạ? Khó chịu thì đi gặp bác sĩ, đừng nằm ở đây…”

Ông chú kia lập tức ngồi bật dậy, nhanh chóng hét lên. Tất cả các loại từ chửi thề được văng ra với cậu thanh niên tội nghiệp. Sau đó, dường như vẫn chưa đủ, ông ta bắt đầu thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Chàng trai trẻ không đánh trả cho đến khi các hành khách khác tách hai người ra.

Có một cô kia ở Thượng Hải. Trong xe điện ngầm vài năm trước, không chỉ ngồi gặm chân gà trong xe mà nhổ cả xương ra sàn tàu. Khi bị nói, cô này không những không nhận lỗi, mà thái độ còn vô cùng kiêu ngạo. Và cô ấy là một giáo viên dạy đàn violin tại một tổ chức giáo dục. Trong hai năm qua, người ta đã ghi nhận được nhiều lần cô này ăn đồ ăn trên tàu điện ngầm và vứt đồ bừa bãi. Sự nổi tiếng của cô thậm chí còn sinh ra vô số người, như “Anh trai tôm hùm” của Bắc Kinh.

“Da mặt của những người này thực sự rất dày. Không gian công cộng cũng vì họ mà thêm phần ô yên chướng khí, bọn họ bất chấp mọi thứ và tinh thần tự tôn của họ là không thể chấp nhận được”, tác giả Sát Phương cho biết, kèm theo lời lý giải:

“Rốt cuộc, những người thiếu đạo đức công cộng không có gì hơn là: Thứ nhất là vô minh. Thứ hai, thiếu giáo dục. Nói tóm lại, họ không thể tự đặt mình vào vị trí của người khác. Nếu ta có thể đồng cảm, để nghĩ cho người khác, thì sẽ không cư xử như vậy”.

Đôi trai gái thản nhiên cắn hạt hướng dương, bỏ vỏ trên sàn tàu điện ngầm (ảnh: Shanghaiist).

Mọi sự giáo dục đều phải bắt nguồn từ việc này…

Nhà văn Trung Quốc nổi tiếng Dư Thu Vũ đã từng chia sẻ kinh nghiệm cá nhân của mình. Có dịp, anh sang Đức trải nghiệm cuộc sống và chuẩn bị thuê nhà. Khi anh muốn ký hợp đồng thuê nhà dài hạn ngay, ông chủ nhà đã nói: “Bạn chưa sống thử, không biết tốt hay xấu, vì vậy trước tiên hãy ký hợp đồng ngắn hạn để có trải nghiệm một chút, sau đó hãy quyết định có nên sống lâu ở đây hay không”.

Bất ngờ, anh vô tình làm rơi kính xuống đất và tấm kính vỡ tan. Nhà văn đã nhanh chóng nói: “Xin lỗi, tôi đã làm vỡ kính”.

Ông già nói với lòng bao dung: “Không thành vấn đề, bạn không cố tình. Tôi sẽ lấy thêm một cái nữa”. Sau khi nhà văn cúp điện thoại, anh quét dọn kính vỡ và loại rác khác cho vào túi rác và đặt bên ngoài nhà.

Một lúc sau, ông lão đi đến và nhìn thấy túi rác đầy những mảnh thủy tinh vỡ bên trong. Thật bất ngờ, ông lập tức nói với nhà văn: “Anh có thể chuyển đi vào ngày mai, tôi sẽ không cho anh thuê nhà nữa”.

Nhà văn rất ngạc nhiên hỏi: “Tôi làm vỡ kính và làm ông không vui?”

Ông già lắc đầu: “Không phải, là bởi vì anh không biết nghĩ đến người khác”.

Sau đó, ông lão phân loại lại rác và bỏ các mảnh thủy tinh vào một chiếc túi riêng, ghi một dòng chữ bên ngoài túi: “Có thủy tinh bên trong, nguy hiểm!”.

Ông lão dùng hành động của mình để nói với nhà văn Dư rằng: “Người sống trên đời, không thể chỉ nghĩ tới bảo hộ mình. Biết dùng lòng tốt mà nghĩ đến người khác, chính là một người được dạy dỗ tốt nhất”.

Carnegie đã viết trong Nhược điểm của nhân tính rằng: “Người chỉ nghĩ cho bản thân mình là không thể cứu được. Cho dù anh ta có được trải qua loại giáo dục như thế nào, anh ta vẫn là không được dạy làm người”.

Tác giả Sát Phương đã kết lại một câu như khẩn cầu người Trung Quốc, “tôi hy vọng rằng tất cả chúng ta có thể có ý thức không gây rắc rối cho người khác, và dùng lòng tốt suy nghĩ cho người khác”.

Từ những câu chuyện của người Trung Quốc đại lục và nỗi buồn tủi của họ, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự tương đồng trong xã hội Việt ngày nay. Những người lớn chưa trưởng thành vẫn đang hàng ngày hành động tùy tiện ở mọi nơi, từ chỗ xếp hàng trong siêu thị, rạp chiếu phim, bệnh viện, nhà hàng cho tới trên đường phố, cơ quan hành chính, công sở…

Những nỗi buồn và hổ thẹn giống nhau, thì cũng cần những lời kêu gọi giống nhau. Tôi muốn kể lại câu chuyện này để lời cầu khẩn được lan tỏa hơn nữa, bởi chúng ta, những người Việt, cũng cần đốc thúc nhau làm người tử tế.

Có Nên Yêu Và Kết Hôn Với Người Trung Quốc Không?

Cuộc sống du học xa nhà vô cùng cô đơn và buồn bã. Đôi khi tính cách của mình chẳng phù hợp với ai trong đám bạn đồng hương nên lúc nào cũng có cảm giác bị lạc lõng. Cũng bởi vì lý do đó mà có không ít du học sinh Việt Nam chọn yêu người Trung Quốc. Chuyện yêu một người nước ngoài nói chung, yêu một người Trung Quốc nói riêng thực ra là một chuyện khá bình thường. Tuy nhiên để mà quyết định kết hôn với người đó thì bạn phải suy nghĩ thật kĩ và vượt qua được mọi vấn đề nảy sinh thì mới có thể tiến tới hôn nhân được.

Nên chọn người yêu Trung Quốc như thế nào?

Là một du học sinh, bạn nên chọn yêu người có cùng trình độ văn hóa như mình hoặc cao hơn. Chỉ có những người như vậy mới đủ khả năng và nhận thức để thương yêu cũng như chăm sóc bạn. Việc yêu người có cùng trình độ văn hóa cũng sẽ thu hẹp khoảng cách về tâm hồn cũng như bất đồng về tư tưởng.

Những người có trình độ văn hóa đại học trở lên đa phần rất hiền lành và lịch sự. Hơn thế nữa họ cũng sẽ rất nhiệt tình và chiếu cố đối với những người bạn nước ngoài như bạn. Ngược lại bạn cũng nên tìm hiểu và đối xử với họ theo cách mà họ tiếp cận với mình.

Không nên yêu người chênh lệch tuổi tác với mình quá nhiều. Ở quốc gia nào cũng vậy, mỗi thế hệ đều có tư tưởng sai lệch nhau nhiều. Việc yêu người có cùng lứa tuổi hoặc ít chênh lệch tuổi tác thì sẽ có nhiều điểm chung phù hợp để giao lưu và cộng hưởng.

Đừng quá đặt nặng vấn đề văn hóa và dân tộc, trước tiên hãy cứ yêu thử xem liệu có phù hợp không. Nếu bạn quá đặt nặng vấn đề văn hóa và dân tộc thì rất có thể bạn sẽ bỏ qua người tốt đấy. Hơn nữa trong suốt thời gian du học Trung Quốc, việc yêu một người bản địa cũng mang lại nhiều lợi thế cho bạn trong việc học ngôn ngữ, học tập và sinh hoạt thường nhật. Hãy cứ xác định rằng yêu là một chuyện, có phù hợp để tiến tới hôn nhân hay không lại là việc khác.

Có nên kết hôn với người Trung Quốc không?

Khi đã tìm được đối tượng phù hợp với mình để yêu thương, hai người phải trải qua một quãng thời gian dài tìm hiểu lẫn nhau mới có thể kết luận người ấy phù hợp với mình hay không. Đôi khi bạn đã có thể kết luận người này phù hợp để làm vợ/chồng mình thì cũng chưa chắc có thể tiến xa hơn được. Việc kết hôn với người ngoại quốc không hề đơn giản. Chưa kể vấn đề thủ tục pháp lý, việc vượt qua được sự phản đối của gia đình, vượt qua vùng an toàn của chính mình cũng là điều khá khó khăn. Một khi bạn đủ bản lĩnh để vượt qua được mọi thứ thì chẳng còn gì có thể ngăn cản hai bạn đến với nhau.

Tuy nhiên với kinh nghiệm của mình thì mình khuyên con gái Việt Nam nên lấy chồng Trung Quốc. Con trai Việt Nam thì không nên lấy vợ Trung Quốc.

Trước tiên, con trai Trung Quốc vốn dĩ chăm chỉ và rất chiều chuộng bạn gái. Một cô bạn gái Trung Quốc bướng bỉnh, khó chịu và lắm yêu sách mà họ còn chịu đựng được thì chắc chắn họ phù hợp với một cô gái Việt Nam. Nhiều anh chàng Trung Quốc thậm chí vừa phải làm việc kiếm tiền, vừa phải làm công việc nội chợ như nấu ăn, quét nhà…Việc tìm được một cô gái Việt vừa xinh đẹp, vừa hiền lành lại đảm đang việc nhà đối với họ còn gì hạnh phúc hơn. Có trong mơ cũng chưa chắc họ đã dám nghĩ tới. Vì vậy nên chắc chắn họ sẽ rất trân trọng và tôn trọng cô bạn gái cũng như cô vợ Việt Nam.

Mà còn một điểm nữa khiến hai bên gần như không thể kết hôn với nhau. Đó là con gái Trung Quốc thì không chịu theo chồng sang Việt Nam sống. Còn con trai Việt Nam mà theo vợ sang Trung Quốc sống thì xác định sẽ rất vất vả về sự nghiệp, hơn nữa khả năng bám váy vợ sẽ cao.

Làm Sao Để Trở Nên Điềm Đạm?

Có lẽ những ai đã từng tiếp xúc với mình trong những năm gần đây, đều sẽ có một cảm giác chung là trông mình có vẻ cứ nhẹ nhàng, và thanh thản với cuộc sống. Có cô bé từng bảo với mình là “chị Băng có có cảm giác như mẹ ấy, rất an tâm,” cũng có người nhận xét là mình trầm tĩnh và hiền hiền, thậm chí người hiểu mình nhất đã bảo là mình có “aura buồn ngủ và xoa dịu người khác.” Với mình thì, tất cả những điều mà mọi người cảm nhận được ở mình, hay là những gì mình đang lan toả ra bên ngoài, đều gói gọi trong một từ: điềm đạm.

Điềm đạm, không có nghĩa là thờ ơ và không có phản ứng với những gì xung quanh, không phải là thản nhiên với tất cả vui buồn cuộc sống. Mà sự điềm đạm trong mình là khả năng kiểm soát được cảm xúc, biết buông bỏ những xúc cảm tiêu cực như tức giận, biết tận hưởng vẻ đẹp của những điều bình dị nhỏ bé nhất, là luôn giữ trong mình sự điềm tĩnh và sáng suốt trong đa số trường hợp, là nhận thức được bản thân, và những tồn tại khác. Điềm đạm cũng là cách mình không để ý đến những điều vô nghĩa, xấu xí, hoặc sẽ có tác động không tốt đến mình. Ngoài ra, điềm đạm không phải là không có sự cháy bỏng của đam mê hay nhiệt huyết, mà trái lại, nhiệt huyết của tuổi trẻ sẽ được đẩy lên cao nhất bởi sự tập trung hết mình, nhận thức rõ rệt và sự nuôi nấng của một tính cách điềm đạm.

Để trở thành một người điềm đại không phải là một điều dễ dàng. Mình từng là một đứa nhỏ lông bông, thờ ơ, nóng tính, và không biết kiểm soát cảm xúc. Tất cả đều được thay đổi và cải thiện trong quá trình mình định nghĩa bản thân cũng như phát triển mọi khía cạnh của mình. Mình hiểu là để trở nên điềm đạm cần có một quá trình, với những cách thức rèn luyện riêng biệt. Và hôm nay, khi có thể chia sẻ những điều mình đã học được trong suốt quá trình thay đổi bản thân, mình hi vọng mọi người có thể tìm thấy một hai giá trị nào đó trong việc tu dưỡng tính cách điềm đạm. Từ đó mọi người sẽ có một cuộc sống nhẹ nhàng hơn, và có được sự tĩnh tại trong tâm hồn hơn.

Vậy, sự điềm đạm đã giúp gì cho mình?

Mỉnh hiếm khi tức giận, rất rất hiếm. Những lúc mình cảm thấy hơi bực mình vì điều gì đó, cảm giác ấy sẽ trôi qua rất nhanh. Khi mình không còn bực tức, mình sẽ không phá huỷ tâm trạng vui vẻ của mình lẫn của người khác. Mình sẽ không nói lời tổn thương người khác hoặc chính mình. Mình sẽ giải quyết vấn đề bình tĩnh và sáng suốt hơn.

Mình ít bị stress và lo âu bởi lượng bài vở hoặc công việc mà mình đang có. Mình từng đi làm 40/50+ tiếng một tuần, cộng với học bốn lớp toàn thời gian ở trường, và làm một số việc ngoại khoá khác nữa. Với lượng công việc vậy, mình vẫn cảm thấy ổn và có thể giữ bản thân không bị căng thẳng, không làm giảm chất lượng công việc. Mình cũng không lo lắng cho những gì xấu có thể xảy ra trong tương lai. Bản thân mình là người có chứng lo âu xã hội nhẹ, nhưng chính sự rèn luyện tính điềm đạm đã giúp mình tham gia các hoạt động xã hội và tương tác với nhiều người hơn.

Và chính sự điềm đạm ấy cũng đã khiến mình hiểu bản thân hơn, cũng như giúp mình tạo ra các giá trị mà mình có thể sử dụng để giúp đỡ người khác. Mình biết có thể có những bạn không có hứng thú với sự điềm đạm, nhưng mình nghĩ rằng khả năng kiểm soát cảm xúc, xoa dịu bản thân, hay bình tĩnh trước sóng gió luôn là điều chúng ta nên học hỏi, nhỉ?

Làm sao chúng ta có thể nuôi dưỡng sự điềm đạm trong con người?

Đầu tiên, là sự nhận thức. Ví dụ như chúng ta nhận thức rằng mình là người nóng tính, mình không thể kiểm soát cảm xúc, mình hay giận dỗi vô vớ, mình hay nói lời nặng nhẹ với người khác, vân vân mây mây. Khi nhận thức được điều đó và chúng ta bắt đầu muốn thay đổi, thì chúng ta có thể luyện tập bằng nhiều cách để trở nên trầm tĩnh hơn.

Thứ hai, là đọc sách. Mình luôn luôn muốn nhấn mạnh về sức mạnh của sách trong việc hình thành nhân cách tốt cho con người. Nếu chọn được sách đúng, sách hay, chúng ta hoàn toàn có thể nuôi dưỡng những giá trị đẹp đẽ, và cả sự điềm đạm từ trong những trang sách. Mình chọn đọc sách của thầy Thích Nhất Hạnh, của cụ Nguyễn Duy Cần, của bác Cao Huy Thuần, của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, và còn hàng trăm nghìn quyển sách khác có thể giúp chúng ta trở nên điềm tĩnh hơn trước mọi điều.

Thứ ba, là hiểu rằng cuộc đời này quá ngắn cho những gì vô nghĩa, và ngưng than phiền. Gary Vayneychurck từng nói rằng: “Nếu như bạn biết bạn sẽ chết vào tuần này, bạn có còn than phiền về ngày thứ Hai chết tiệt của bạn? Tôi cá bạn sẽ không?” Mình chưa bao giờ than phiền về thứ Hai, về mớ công việc lộn xộn chưa thành, về việc mình không được đi đây đi đó, về việc mình không mua được cái này cái kia. Mình không hề tìm thấy giá trị trong việc than phiền, mà ngược lại, than phiền còn khiến chúng ta cảm thấy phiền muộn hơn, và không nhìn thấy những điều tốt đẹp hơn mà thôi. Thay vì nhìn vào những cái vô nghĩa và xấu xí, mình nhìn thấy những điều đẹp đẽ, nhìn thấy hi vọng, và những cơ hội thay đổi. Mình tin rằng, chúng ta có thể chia sẻ những khó khăn đang gặp phải với những người thân yêu, để cảm thấy nhẹ nhàng và từ đó tìm cách để vượt qua là một điều rất tốt. Nhưng than phiền và liên tục bất mãn? Rõ ràng thì cố gắng làm việc và hành động để thay đổi là một hướng giải quyết tốt hơn.

Thứ tư, là tìm thấy vẻ đẹp của người khác, là hiểu rằng họ cũng là một con người đang tồn tại với một mớ bòng bong có khi chẳng hề dễ chịu. Đây là lúc mình học được nhiều về sự bao dung, về mở lòng, về vị tha. Mình từng đọc rất nhiều bài chia sẻ của các bạn trẻ về những điều mà họ gặp phải, và rất nhiễu nỗi đau của con người đều xuất phát từ việc những người xung quanh không hề thấu hiểu, lắng nghe, và thông cảm cho nhau. Mình học được rằng khi chúng ta bắt đầu biết nhìn nhận sự tốt đẹp và giá trị của người khác, ngừng phán xét và bắt đầu biết tha thứ cho nhau, thì lúc đó chính mình mới có thể buông bỏ được những thái độ, phản ứng, suy nghĩ xấu xí có tác động tiêu cực đến bản thân mình lẫn người khác.

Thứ năm, nói ít lại, lắng nghe nhiều hơn. Khi đó, chúng ta mới có cơ hội hiểu thêm về người khác, có cơ hội luyện tập khả năng lắng nghe cũng như sự kiên nhẫn trong một cuộc hội thoại. Lắng nghe nhiều hơn giúp chúng ta có suy nghĩ đa chiều, cũng như biết cách phản ứng sao cho phù hợp để tạo nên kết quả tốt nhất. Đồng thời, nghe nhiều hơn cũng có nghĩa là học được nhiều hơn.

Thứ sáu, chọn lọc những gì mình đưa vào tâm trí. Mình đã từng viết một bài về làm sao chúng ta có thể đưa những gì tốt đẹp vào tâm trí của mình. Đây cũng là cách mình giữ cho bản thân điềm đạm. Mình không thích đọc những gì tiêu cực trên mạng, cũng không thích tham gia vào những cuộc bút chiến. Mình chỉ thích đọc, xem, và lắng nghe những gì tốt cho sức khoẻ tinh thần của mình thôi.

Thứ sáu, chăm sóc bản thân. Việc chăm sóc bản thân xuất bản từ tình yêu thương bản thân, và khi bản thân mình được chăm sóc để luôn cảm thấy khoẻ mạnh và thoải mái, chúng ta ít có xu hướng bộc lộ cảm xúc thái quá, làm những việc bốc đồng và giận dữ hơn. Tập thể dục, yoga, thiền, ăn uống lành mạnh, không dùng “thức ăn rác,” ngủ đủ và sâu, đi chơi với bạn bè, tất cả những điều đó đều góp phần giúp chúng ta trở nên khoẻ mạnh, hạnh phúc, điềm tĩnh hơn.

Và cuối cùng, là sự nhận thức được vẻ đẹp của những gì mình đang có trong cuộc đời, để từ đó mỉm cười nhiều hơn, biết ơn nhiều hơn. Với mình, hình ảnh bầu trời in dấu xuống đồng ruộng là một cảnh rất đẹp, hai ba nhúm hoa trắng nhỏ bên đường cũng đẹp, ánh nắng hắt lên tách trà rất dễ chịu, hương bạch đàn rất thơm, trà nhài rất dịu, giọng nói bi bô của em trai nhỏ rất đáng yêu, nhỏ bản thân chịu khó chở mình đi ăn rất tốt bụng, sự cố gắng của những người anh người chị rất đáng ngưỡng mộ, những gì mình đang làm đều mang đến cho mình hạnh phúc. Và còn trăm ngàn điều khác nữa mà mình cảm thấy vô cùng dễ thương và biết ơn khi có thể tồn tại trong cuộc sống này. Mình biết mình may mắn, nên mình càng trân trọng cuộc sống này hơn, và muốn được giúp đỡ người khác nhiều hơn.

Còn bạn thì sao? Bạn tìm thấy giá trị nào của sự điềm đạm? Bạn có muốn trở thành một người điềm đạm không?

Vì Sao Việt Quốc Chống Cộng, Từ Khi Nào Và Cho Đến Bao Giờ?

Thiện Ý

Vì sao Việt quốc chống cộng, từ khi nào và cho đến bao giờ? Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi lần lượt trình bày:

Việt quốc và Việt cộng là ai?

Vì sao Việt Quốc chống cộng?

Việt quốc chống cộng từ khi nào và cho đến bao giờ?

I – VIỆT QUỐC VÀ VIỆT CỘNG LÀ AI?

Để trả lời câu hỏi này và để tránh hiểu lầm với ý nghĩ từ ngữ Việt Quốc viết tắt của Việt Nam Quốc Dân Đảng, cần định nghĩa “Việt quốc” và “Việt Cộng” được dùng trong bài này cùng các bài viết bao lâu nay của chúng tôi, để thấy rõ vì sao có cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng tại Việt Nam kéo dài nhiều thập niên qua vẫn chưa chấm dứt. Theo chúng tôi:

1 – Việt quốc bao gồm các chính quyền, các chính đảng quốc gia và quần chúng nhân dân có ý thức và hành động chống cộng. Nói cách khác Việt quốc là những người Việt Nam không cộng sản, theo “ý thức hệ quốc gia”, tôn thờ Tổ Quốc Việt Nam, coi quyền lợi dân tộc Việt Nam là tối thượng, kế thừa sự nghiệp dựng nước và giữ nước của lịch sử Việt Nam, khởi đi từ Thời Hồng Bàng với các Vua Hùng dựng nước Văn Lang (tên cổ xưa của Việt Nam), qua các triều đại độc lập tự chủ do các vua quan Việt Nam cai trị đất nước (Đinh, Lê, Lý, Trần…) hay những thời kỳ dài ngắn bị ngoại bang xâm chiếm đô hộ (1000 năm Bắc thuộc, gần 100 năm Pháp thuộc), với các anh hùng hào kiệt đã lãnh đạo nhân dân chống ngọai xâm, giành và giữ độc lập, tự chủ cho dân tộc, viết nên những trang sử oai hùng và vẻ vang cho dân tộc Việt (như Ngô Quyền, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt , Quang Trung, Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Thái Học…).

II – VÌ SAO VIỆT QUỐC CHỐNG CỘNG?

Việt quốc chống cộng, vì:

1 – Trên bình diện lý luận: Chủ nghĩa cộng sản dù có là một lý tưởng nghe qua có vẻ nhân đạo, cao đẹp, có tính mê hoặc lòng người, nhất là những người trẻ tuổi vốn say mê lý tưởng cao cả khi vào đời. Thế nhưng không tưởng theo nghĩa một lý tưởng không thể, không bao giờ thực hiện được. Vì vậy, những cá nhân (đảng viên cộng sản) hay tập đoàn (đảng cộng sản) ở bất cứ quốc gia nào, khi vận dụng chủ nghĩa cộng sản vào thực tiễn đã chỉ là tai họa thảm khốc, xung đột giai cấp, chiến tranh hận thù, tiêu hủy tài nguyên quốc gia, tàn phá đất nước, hủy hoại mọi nền tảng đạo đức xã hội, văn hóa dân tộc, mất độc lập tự chủ (vì lệ thuộc cộng sản quốc tế…), đưa nhân dân vào cuộc sống mất tự do, đói khổ, lầm than, di hại nghiêm trọng, toàn diện và lâu dài cho nhiều thế hệ nhân dân, phân hóa dân tộc… của quốc gia ấy.

Rốt cuộc, cái gọi là “cuộc cách mạng vô sản” để xây dựng “một xã hội không người bóc lột người” (từ xã hội chủ nghĩa, còn giai cấp, đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, không còn giai cấp, không còn nhà nước…), tất cả chỉ là chiêu bài lừa mị của một tập đoàn thống trị độc quyền, độc tôn, độc tài (đảng cộng sản) để xây dựng “một xã hội người (với thiểu số cán bộ đảng viên CS) độc quyền áp bức bóc lột người ( tuyệt đại đa số nhân dân)”. Một sự độc quyền áp bức bóc lột tinh vi và tàn ác chưa từng có trong lịch sử hình thành các hình thái xã hội loài người có giai cấp (xã hội cộng sản nguyên thủy, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản… theo duy vật sử quan cộng sản).

2 – Trên bình diện thực tiễn: Việt cộng nói riêng, cộng sản quốc tế nói chung, đã tin theo và vận dụng chủ nghĩa cộng sản vào thực tế nước ta (cũng như một số nước khác trên thế giới), đã gây tác hại nghiêm trọng, toàn diện, di hại lâu dài trên con người, dân tộc và đất nước Việt Nam trong nhiều thập niên qua và còn di hại lâu dài cho dân tộc và đất nước Việt Nam qua nhiều thế hệ sau này.Và do đó, thời hậu cộng sản nhân dâ Việt Nam sẽ phải mất nhiều thời gian mới có thể khắc phục, phục hồi và ổn định phát triển toàn diện.

– Vì tin và hành động theo “ý thức hệ cộng sản” Việt cộng đã đánh mất bản sắc dân tộc, tách rời khỏi lịch sử chính thống quốc gia Việt Nam và dùng “Tính giai cấp” và lăng kính “đấu tranh giai cấp” để phê phán chủ quan, không trung thực về các triều đại và các anh hùng hào kiệt của lịch sử Việt Nam, xuyên tạc lịch sử và chối bỏ Tổ Quốc Việt Nam, để chọn và tôn thờ cái gọi là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Liên Xô” là tổ quốc của mình. Và vì vậy cộng sản Việt Nam sẵn sàng hy sinh quyền lợi của Tổ Quốc và dân tộc Việt Nam cho quyền lợi của đảng CSVN và quốc tế cộng sản, cụ thể là hai tân đế quốc CS Nga-Tàu (công cụ tri tình cho quốc tế CS trong Thời kỳ Chiến tranh ý thứ hệ toàn cầu..,).

– Vì chủ trương hận thù và đấu tranh giai cấp làm động lực, Việt cộng đã phá đổ mọi quan hệ xã hội nhân bản vốn tốt đẹp giữa người với người, đã không ngần ngại thủ tiêu, bắn giết và làm mọi điều tàn ác với con người; dù là những người anh em cùng mầu da sắc máu, chung nguồn gốc Việt tộc với họ, theo phương châm “cứu cánh biện minh cho hành động” như VC đã làm trong giai đoạn chiến tranh Quốc Cộng vừa qua .Điển hình cao độ là đấu tố dã man ở Miền Bắc sau Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước; đã tàn sát, chôn sống hàng ngàn quân dân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa, trong biến cố Tết Mậu Thân 1968 ở Huế và nhiều hành động tán ác khác như pháo kích hàng đêm vào các thành thị giết hại dân lành, đặt chất nổ để khủng bố, phá hoại trong suốt cuộc chiến tranh Quốc- Cộng ở Miền Nam (1954-1975) và sau cuộc chiến( tập trung đầy ải hàng ngàn quân cán chính VNCH trong các trại tù cải tạo…)

– Vì chủ trương vô thần, chết là hết, nên Việt cộng không sợ hậu quả, đã thẳng tay đàn áp những người dân hữu thần, dùng mọi thủ đoạn, phương cách dù bất nhân, tàn bạo nhằm tiêu diệt mọi tín ngưỡng, tôn giáo, vốn là nhu cầu tinh thần quan yếu trong đời sống tâm linh của con người, và là một thực thể xã hội góp phần quan trọng vào nền đạo đức xã hội nhân bản qua mọi thời đại.

Thực tế là, sau khi nắm được quyền thống trị toàn đất nước hơn 44 năm qua (1975-2019) và trước đó trên một nửa nước Miền Bắc (1954-1975), đảng CSVN đã áp đặt một chế độ độc tài toàn trị, với một đảng duy nhất nắm quyền thống trị (đảng CSVN) với một nhà nước “Chuyên chính vô sản” (tức độc tài cộng sản) bác đoạt quyền tự do, dân chủ và các nhân quyền cơ bản của nhân dân, thông qua “ một chính quyền của đảng, do đảng và vì đảng cộng sản Việt Nam”. Việt cộng đã sử dụng quân đội, công an, luật pháp, tòa án, nhà tù, pháp trường… như những công cụ của “chế độ độc tài toàn trị CS” để trấn áp nhân dân, duy trì và bảo vệ quyền cai trị độc tài, độc tôn, độc quyền với những ưu quyền đặc lợi của một giai cấp thống trị mới (giai cấp cán bộ đảng viên cộng sản), chia nhau nắm quyền, ăn chia lợi ích ở các cấp, các ngành trong bộ máy đảng và bộ máy nhà nước. Nghĩa là một giai cấp thiểu số (khoảng 3-4 triệu đảng viên CS) bằng bạo lực của nòng súng lưỡi lê, công an trị, để thống trị trên tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam (trên 90 triệu dân) từ thượng tầng quốc gia đến hạ tầng cơ sở.

Đó là những lý do khái quát, căn bản trên bình diện lý luận và thực tiễn, khiến Việt quốc, là những người Việt Nam theo ý thức hệ quốc gia, hay là những người Việt Nam không cộng sản, từ quá khứ đến hiện tại, từ trong nước ra hải ngoại, đã và vẫn đang tiếp tục con đường chống cộng trường kỳ cho đến ngày thành đạt mục tiêu lý tưởng tối hậu của mình là dân chủ hóa đất nước. Vậy thì…

III – VIỆT QUỐC CHỐNG CỘNG TỪ KHI NÀO VÀ CHO ĐẾN BAO GIỜ ?

Có thể nói, kể từ khi “ý thức hệ cộng sản” du nhập vào Việt Nam trong những thập niên đầu Thế Kỷ 20, nhưng rõ rệt là kể từ khi đảng Cộng sản Việt Nam xuất hiện chính thức trên chính trường Việt Nam. Nghĩa là sau khi ông Hồ Chí Minh được huấn luyện và đào tạo từ lò cộng sản Moskva, nhận chỉ thị của Đệ tam Quốc tế Cộng sản Nga trở về Hong Kong họp Đại Hội thống nhất ba đảng Marxist thành lập trước đó (Đông Dương Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn và An Nam Cộng sản đảng) thành đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) vào ngày 3 tháng 2 năm 1930. Và có thể coi công cuộc chống cộng từ ý thức đến hành động, cũng khởi đi từ đó, nhằm thành đạt các mục đích chống cộng của từng giai đọan, tiến tới thành đạt mục tiêu chống cộng tối hậu là đánh bại chủ nghĩa cộng sản trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn, để xây dựng một chế độ tự do dân chủ đích thực theo đúng ý nguyện và vì lợi ích của toàn thể quốc dân Việt Nam.

Như vậy, cộng cuộc chống cộng có thể chia làm ba giai đoạn. Trong phạm vi một bài nhận định tổng quát chúng tôi chỉ có thể trình bầy khái quát như sau:

1 – Tiền chiến tranh Quốc-Cộng: (1930 -1954)

Đây là giai đọan chống cộng đầu tiên, diễn ra trong thời kỳ kháng chiến chống ách thống trị của thực dân Pháp giành độc lập dân tộc. Các thế hệ Việt Nam theo ý thức hệ quốc gia đã chống cộng nhằm ngăn chặn một hiểm họa hậu Pháp thuộc: Hiểm họa cộng sản hóa Việt Nam.

Bởi vì trong giai đoạn này, lực lượng được coi là lãnh đạo chống cộng, bao gồm các chính đảng quốc gia (Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Độc Lập, Việt Nam Cách Mạng Đảng tức Phục Việt, Đại Việt Quốc Xã, Đại Việt Quốc Dân Đảng, Việt Nam Ái Quốc Đảng, Nhân Xã Đảng…) và một số nhà trí thức, thân hào nhân sĩ yêu nước tiên tiến tiêu biểu như Hùynh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… Họ đã thấy được ý đồ của ông Hồ và Cộng đảng Việt Nam chỉ là lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân, thông qua cuộc kháng chiến chống Pháp như một phương tiện, không phải để giành độc lập cho dân tộc Việt Nam, mà làm nhiệm vụ của cộng sản quốc tế, giành thuộc địa kiểu mới cho các tân đế quốc đỏ Nga -Tầu, nhuộm đỏ đất nước và nô dịch hóa nhân dân Việt Nam.

Vì thế, mục tiêu chống cộng giai đoạn này là làm sao cho quần chúng Việt Nam thấy được hiểm họa cộng sản, không tin, không theo, không để cho ông Hồ và Cộng đảng Việt Nam lợi dụng của cải, xương máu và lòng yêu nước chống ngọai xâm của mọi tầng lớp nhân; để dùng kháng chiến như phương tiện, không phải để giành độc lập cho dân tộc, mà giành “Thuộc địa kiểu mới” cho các “Tân Đế Quốc Đỏ Nga –Tầu” thực hiện “Chủ nghĩa thực dân kiểu mới” của cộng sản quốc tế.

Cuộc phân tranh Quốc – Cộng lúc này diễn ra âm thầm nhưng không kém phần quyết liệt, giữa một bên là các chính đảng Quốc gia và các thân hào nhân sĩ yêu nước, bên kia là đảng CSVN. Đôi bên Quốc-Cộng phân tranh nhằm tiêu diệt nhau và thu phục, lôi kéo nhân dân theo và nhận chịu sự lãnh đạo của mình. Cuộc phân tranh Quốc-Cộng giai đọan này, lúc đầu chủ yếu diễn ra trên mặt trận tư tưởng, tuyên truyền chính trị, nhằm lôi kéo quần chúng Việt Nam tin theo và tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp dưới sự lãnh đạo của mình.

Tuy nhiên, vào thời khoảng cuối cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), sau khi Nhật bại trận trong Thế Chiến Thứ II, phải trao trả độc lập cho Việt Nam. Lúc đó, Cộng Đảng Việt Nam đứng đầu là ông Hồ Chí Minh, dù thế yếu so với các chính đảng quốc gia, song nhờ thủ đọan khôn khéo và tính tổ chức, tinh thần kỷ luật và tính cách mạng cao của một đảng Marxist-Leninnist, nên đã cướp thời cơ, giành được chính quyền nhiều nơi trên cả nước (Cách mạng Tháng 8 -1945). Nhưng vì thực lực và tình hình thực tế quốc nội cũng như quốc tế lúc đó, chưa cho phép đảng CSVN lộ rõ nguyên hình và độc chiếm chính quyền, nên ông Hồ đã phải thành lập một chính phủ, quốc hội liên hiệp Quốc-Cộng, sọan thảo và ban hành một bản Hiến Pháp năm 1946 thiết lập chế độ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” (giả hiệu: ngụy cộng hòa, ngụy dân chủ…) mang tính “Dân chủ tư sản”, chứ chưa dám thiết lập “Chế độ chuyên chính vô sản” tức “độc tài tòan trị cộng sản”. Ngay cả đảng CSVN lúc đó cũng phải tuyên bố tự giải tán. Mãi sau này, khi nắm được quyền thống trị nửa nước Miền Bắc, cũng vẫn phải gọi tên đảng CSVN trá hình là “Đảng Lao Động Việt Nam” chứ chưa dám xưng danh “Đảng Cộng sản Việt Nam”. Đồng thời cũng vẫn phải giữ bảng hiệu chế độ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” cho đến khi đã thôn tính được Miền Nam vào 30-4-1975, thống trị cả nước, sau đó mới dám trương bảng hiệu “Đảng CSVN” và chế độ “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (giả danh và giả nghĩa).

Sở dĩ Việt cộng phải trá hình như thế, là vì thời khoảng những năm đầu sau Thế Chiến II, cộng sản đang bị thế giới coi là một hiểm họa toàn cầu. Trong khi tại Việt Nam quần chúng chưa biết gì nhiều về cộng sản. Những người biết thì rất sợ chủ nghĩa tam vô (vô tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo), nên ông Hồ và Cộng đảng Việt Nam đã phải ngụy trang bằng mọi cách và khai thác triệt để lòng yêu nước chống ngoại xâm của toàn dân và lòng căm thù giai cấp trong một số bộ phận nhân dân (Công nhân với chủ tư bản, Nông dân căm thù địa chủ, cường hào ác bá ở nông thôn…).

Trên thực tế, đôi lúc đã có những cuộc xung đột võ trang giữa các đảng phái quốc gia và Cộng đảng Việt Nam, gây tổn thất nhân mạng cho cả đôi bên. Riêng Cộng đảng Việt Nam, ngòai các họat động tuyên truyền, thủ đoạn lừa mị tinh vi để lôi kéo quần chúng, họ còn sử dụng các hình thức khủng bố, thủ tiêu những ai không theo hay chống lại họ. Một số nhà ái quốc Việt Nam đã bị CSVN thủ tiêu trong giai đọan này như lãnh tụ Đại Việt Quốc Dân Đảng Trương Tử Anh, hay các nhân sĩ ái quốc như Khái Hưng, Hòang Đạo, Ngô Đình Khôi và nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo ái quốc khác theo ý thức hệ quốc gia như Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ, Hội thánh Cao Đài Tây Ninh Phạm Công Tắc…

Kết quả của cuộc phân tranh Quốc – Cộng giai đọan này, Quốc thua, Cộng thắng. Là vì mục tiêu chống cộng giai đoạn này đã không đạt được: Việt quốc không những đã không ngăn chặn được hiểm họa CS trong ý thức quần chúng, mà thực tế đã để đảng CSVN dưới mặt nạ Việt Minh (viết tắt “Việt Nam Độc lập Đồng minh hội” một tổ chức do Cộng đảng dựng lên) nắm quyền chủ đạo kháng chiến trong thời kỳ chót của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954).Với chiến thắng Điện Biên Phủ Việt Minh (Việt cộng) đã cướp được chính quyền trên một nửa thuộc địa Bắc Việt của Pháp, làm hậu phương phát động và tiến hành chiến tranh nhuôm đỏ Miền Nam.

2 – Chiến tranh Quốc-Cộng (1954 – 1975)

Vì giai đoạn 1, phe Quốc gia đã thất bại trong mục tiêu chống cộng để ngăn chặn hiểm họa Cộng sản từ xa, khi Cộng đảng VN chưa giành được lãnh thổ để thiết lập một chính quyền “Chuyên Chính Vô Sản” (tức độc tài toàn trị cộng sản), thực hiện chủ nghĩa Cộng sản.

Vì thế cho nên cuộc trường chinh chống cộng phải tiếp tục chặng đường chống cộng giai đoạn hai (1954 – 1975) trong khung cảnh một thế chiến lược quốc tế mới hình thành sau Thế Chiến II (Chiến tranh ý thức hệ Cộng sản chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa) và trong thực trạng một đất nước chia hai, theo sự áp đặt của các cường quốc có ảnh hưởng, thông qua Hiệp Định Genève 1954. Hiệp định này được ký giữa Pháp (quân cướp nước) với Việt Minh, mặt nạ của Việt cộng (Phường bán nước cho cộng sản quốc tế Nga-Tàu) sau khi Pháp thất trận Điện Biên Phủ, nên chỉ có ý nghĩa như là thực dân Pháp mất một nửa thuộc địa Miền Bắc vào tay Việt cộng; còn nửa nước Miền Nam, thực dân pháp phải trao trả độc lập hoàn toàn, sau khi đã trao trả độc lập từng phần từ năm 1948 cho chính quyền chính thống quốc gia của Vua Bảo Đại, sau cùng là chính quyền Việt Nam Cộng Hòa kế tục chính danh quyền bính quốc gia của bên Việt quốc.

Cuốc chiến tranh ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa mang tính toàn cầu hình thành sau Thế Chiến II, diễn ra dưới hai hình thái Chiến Tranh Lạnh giữa các mước giầu, và chiến tranh nóng nơi một số nước nghèo, có số phận không may như Việt Nam. Vì thế Việt quốc ở Miền Nam được ‘phe tư bản chủ nghĩa” chọn là “Tiền đồn Thế Giới tự do” và Việt cộng ở Miền Bắc được ‘phe xã hội chủ nghĩa” (hay cộng sản quốc tế) chọn là “tiền phương phe xã hội chủ nghĩa” làm “nhiệm vụ quốc tế cao cả” là phát động “Chiến tranh cách mạng” để nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam và các quốc gia trong vùng. Từ đó, đất nước Việt Nam trở thành bãi chiến trường, nhân dân hai miền Bắc-Nam như bia đỡ đạn cho các thế lực khuynh đảo quốc tế tranh dành ảnh hưởng và lợi ích quốc gia của họ, với lợi ích trước mắt là tiêu thụ cho hết lượng vũ khí đạn dược tồn đọng sau thế chiến II và thử nghiệm thêm các loại vũ khí mới…

Tại Miền Bắc, ông Hồ và Cộng đảng Việt Nam, sau khi chiếm được một nửa đất nước, đã xây dựng và củng cố một chế độ độc tài toàn trị cộng sản, theo mẫu mực của đế quốc Đỏ hàng đầu Liên Xô thời bấy giờ. Tuy nhiên, để che đây thực chất này, Hồ Chí Minh và Cộng đảng Việt Nam đã dùng lại danh xưng chế độ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” của bản Hiến pháp 1946, ban hành sau khi Nhật bại trận trong Thế Chiến II (1939-1945), buộc phải trao trả độc lập cho Việt Nam. Nay để tiếp tục làm nhiệm vụ quốc tế cộng sản, cộng sản Bắc Việt đã làm nhiệm vụ tên lính xung kích của cộng sản quốc tế (Nga-Tầu), phát động cuộc chiến “Nồi da xáo thịt” nhằm thôn tính nhuộm đỏ Miền Nam, vùng đất tự do của quốc gia Việt Nam, với chính quyền chính thống, chính danh Việt Nam Cộng Hòa.

Trong khi đó tại Miền Nam, chính quyền Việt quốc (Việt Nam Cộng hòa) trong tư thế chính thống, chính danh, có chính nghĩa, kế tục quyền lực quốc gia, tiếp nhận độc lập chủ quyền từ tay thực dân Pháp trên một nửa đất nước ở Miền Nam, kiến tạo một chế độ dân chủ pháp trị (Việt nam Cộng hòa) hình thành sau cuộc trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955 truất phế Vua Bảo Đại, cáo chung chế độ quân chủ chuyên chế Việt Nam, thiết lập chế độ cộng hòa với chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân, đáp ứng đúng ý nguyện của nhân dân Việt Nam.

Trong giai đoạn này, cả hai bên Quốc – Cộng đều có tư thế quốc gia, có lãnh thổ, chính quyền quân đội và nhân dân, hành xử quyền cai trị đối nội cũng như đối ngoại. Khi đó, với sự trợ giúp của ngoại bang thuộc hai phe đối đầu: cộng sản và tư bản. Cộng sản Bắc Việt (CSBV), sau sáu năm củng cố, xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn, đã thành lập “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam” (12-1960) rồi sau đó đẻ ra “Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” (1967) làm công cụ quân sự, chính trị phát động và tiến hành chiến tranh xâm lăng Miền Nam, với sự trợ giúp của Nga –Tầu và các nước trong phe “Xã Hội Chủ Nghĩa”.

Trong khi đó, tại Miền Nam Việt Nam, chính quyền chính thống quốc gia Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), với sự trợ giúp của Hoa Kỳ và các cường quốc tư bản, theo đuổi một cuộc chiến tranh tự vệ, với mục đích ngăn chặn, đẩy lùi và đập tan ý đồ xâm lăng của CSBV, xây dựng và củng cố chế độ dân chủ pháp trị, phát triển kinh tế ngày càng vững mạnh, thực hiện chủ trương tiến tới thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình, với sự ưu thắng của một Miền Nam dân chủ, giầu mạnh trên chế độ độc tài tòan trị cộng sản, lạc hậu và nghèo nàn ở Miền Bắc (như thực tế đã xảy ra ở nước Đức qua phân và sẽ xảy ra ở Triều tiên trong tương lai không xa).

Cuộc chiến tranh Quốc-Cộng kéo dài 21 năm (1954-1975), với kết cuộc phe Quốc gia một lần nữa bị là “bên thua cuộc”, CSBV đã thôn tính được Miền Nam, thống trị toàn cõi đất nước bằng một chế độ độc tài toàn trị CS. Việt Quốc thua cuộc chủ yếu trước hết là vì tầng lớp lãnh đạo các chính quyền VNCH không bảo vệ được chủ quyền quốc gia và công cuộc chống cộng hoàn toàn lệ thuộc vào Hoa Kỳ đến độ để cho quân đội Hoa Kỳ trực tiếp tham chiến (1965) là Mỹ hóa chiến tranh, để đối phương CSBV “ngụy dân tộc” giật được chính nghĩa dân tộc “chống ngoại xâm” (chống Mỹ cứu nước). Thứ đến là vì sau khi các mục tiêu và lợi ích chiến lược đã đạt được thông qua cuộc chiến Việt Nam, Hoa Kỳ là thực hiện “Việt nam hóa chiến tranh” (1969) để rút chân ra khỏi cuộc chiến một cách danh dự; song Hoa Kỳ đã không thực hiện những cam kết giúp VNCH về quân sự, kinh tế để đủ khả năng tiếp tục chiến đấu chống cộng để tự tôn.

Hệ quả là, chế độ dân chủ VNCH cáo chung, chính quyền VNCH sụp đổ, quân lực VNCH tan rã. Hệ quả là hầu hết sĩ quan và lãnh đạo chính quyền các cấp VNCH bị CS đầy ải, hành hạ, sỉ nhục trong các trại tù “Tập trung cải tạo”. Một thiếu số quan chức chính quyền, quân đội và nhân dân Miền Nam kịp di tản ra hải ngoại trước ngày 30-4-1975, và vượt biên nhiều năm sau đó, qui tụ thành những Tổ Chức Cộng Đồng, các đảng phái chính trị và tổ chức đấu tranh, đoàn thể xã hội, tôn giáo tiếp tục công cuộc chống cộng giai đọan 3 vì tự do dân chủ cho đất nước.

3 – Hậu chiến tranh Quốc-Cộng (Từ sau 30-4-1975… đến ngày kết thúc)

Đây là giai đoạn chống cộng cuối cùng của Việt Quốc để khẳng định chân lý, chính nghĩa tất thắng thuộc về bên nào (Việt Cộng hay Việt Quốc) trong cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng kéo dài nhiều thập niên qua tại Việt Nam. Giai đoạn chống cộng này sẽ chấm dứt khi Việt Quốc thành đạt mục tiêu tối hậu là dân chủ hóa đất nước. Nghĩa là chế độ độc tài toàn trị cộng sản tiêu vong để hình thành một chế độ dân chủ pháp trị, với các quyền tự do, dân chủ, dân sinh, nhân quyền được tôn trọng, bảo vệ và hành xử. 44 năm qua (1975-2019) Việt Quốc đã chóng cộng như thế nào, thành quả ra sao, chúng tôi sẽ trình bày chi tiết trong các bài viết tiếp theo

III – KẾT LUẬN

Sau bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày tiếp qua loạt bài “44 năm Việt Quốc chống cộng vì tự do, dân chủ cho đất nước, thành quả và triển vọng tương lai ”. Mời bạn đọc đón xem để có dữ kiện so sánh hai con đường dẫn đến hai mục tiêu tối hậu khác.nhau giữa Việt Quốc và Việt Cộng, cuối cùng “ai thắng ai?”.

Thiện Ý

Houston, ngày 6-8-2019

Bạn đang xem bài viết Vì Sao Người Trung Quốc Ngày Càng Trở Nên Thiếu Văn Minh? trên website Namtranpharma.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!