Lạm Phát Tốt Hay Xấu? Điều Gì Tạo Ra Lạm Phát?

--- Bài mới hơn ---

  • Lạm Phát Là Gì? Những Tác Động Của Lạm Phát Đến Nền Kinh Tế
  • Chăm Sóc Phụ Nữ Sau Sinh
  • Phong Du Lạc One Piece
  • Hạn Kim Lâu Là Gì? Cách Tính Và Giải Hạn Kim Lâu? Giá Mộ Đá Tam Sơn Ninh Bình
  • Làm Việc Lâu Năm Ở Một Công Ty Là Tốt Hay Xấu?
  • Lạm phát đo lường mức độ đắt hơn của một tập hợp hàng hóa và dịch vụ trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm

    Nó có thể là một trong những từ quen thuộc nhất trong kinh tế học. Lạm phát đã đẩy các quốc gia vào thời kỳ bất ổn kéo dài. Các chủ ngân hàng trung ương thường khao khát được gọi là “diều hâu lạm phát”. Các chính trị gia đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử với lời hứa chống lạm phát, chỉ để mất quyền lực sau khi không thực hiện được. Lạm phát thậm chí còn được Tổng thống Gerald Ford tuyên bố là kẻ thù số 1 ở Hoa Kỳ – vào năm 1974. Vậy thì lạm phát là gì, và tại sao nó lại quan trọng như vậy?

    Lạm phát Đo lường như thế nào?

    Chi phí sinh hoạt của người tiêu dùng phụ thuộc vào giá của nhiều hàng hóa và dịch vụ và tỷ trọng của từng loại trong ngân sách hộ gia đình. Để đo lường chi phí sinh hoạt trung bình của người tiêu dùng, các cơ quan chính phủ tiến hành các cuộc khảo sát hộ gia đình để xác định một giỏ các mặt hàng thường mua và theo dõi chi phí mua giỏ này theo thời gian. (Chi phí nhà ở, bao gồm tiền thuê nhà và tiền thế chấp, là thành phần lớn nhất của giỏ tiêu dùng ở Hoa Kỳ.) Chi phí của giỏ này tại một thời điểm nhất định được biểu thị so với năm gốc là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và tỷ lệ phần trăm sự thay đổi của chỉ số CPI trong một thời kỳ nhất định là lạm phát giá tiêu dùng, thước đo lạm phát được sử dụng rộng rãi nhất. (Ví dụ, nếu CPI năm cơ sở là 100 và CPI hiện tại là 110, thì lạm phát là 10 phần trăm trong thời kỳ này.)

    Lạm phát tiêu dùng cốt lõi tập trung vào các xu hướng cơ bản và dai dẳng của lạm phát bằng cách loại trừ giá do chính phủ quy định và giá sản phẩm dễ biến động hơn, chẳng hạn như thực phẩm và năng lượng, bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các yếu tố theo mùa hoặc điều kiện cung cấp tạm thời. Lạm phát cơ bản cũng được các nhà hoạch định chính sách theo dõi chặt chẽ. Việc tính toán tỷ lệ lạm phát tổng thể – chẳng hạn đối với một quốc gia, và không chỉ đối với người tiêu dùng – yêu cầu một chỉ số có phạm vi bao phủ rộng hơn, chẳng hạn như chỉ số giảm phát GDP.

    Rổ CPI chủ yếu được giữ cố định theo thời gian để tạo sự nhất quán, nhưng đôi khi được điều chỉnh để phản ánh các mô hình tiêu dùng đang thay đổi – ví dụ, để bao gồm hàng hóa công nghệ cao mới và thay thế các mặt hàng không còn được mua nhiều. Bởi vì nó cho thấy trung bình, giá cả thay đổi như thế nào theo thời gian đối với mọi thứ được sản xuất trong nền kinh tế, nội dung của chỉ số giảm phát GDP thay đổi hàng năm và cập nhật hơn so với rổ CPI chủ yếu cố định. Mặt khác, hệ số giảm phát bao gồm các khoản không tiêu thụ được (chẳng hạn như chi tiêu quân sự) và do đó không phải là thước đo tốt cho chi phí sinh hoạt.

    Lạm phát tốt hay là xấu?

    Trong phạm vi mà thu nhập danh nghĩa của các hộ gia đình, mà họ nhận được bằng tiền hiện tại, không tăng nhiều như giá cả, thì họ sẽ bị thiệt hơn, vì họ có thể mua ít hơn. Nói cách khác, sức mua hoặc thu nhập thực tế – được điều chỉnh theo lạm phát – của họ giảm. Thu nhập thực tế là một đại diện cho mức sống. Khi thu nhập thực tế tăng lên thì mức sống cũng tăng và ngược lại.

    Trên thực tế, giá cả thay đổi theo các bước khác nhau. Một số, chẳng hạn như giá của hàng hóa giao dịch, thay đổi hàng ngày; những khoản khác, chẳng hạn như tiền lương do hợp đồng thiết lập, mất nhiều thời gian hơn để điều chỉnh (hoặc là “cố định”, theo cách nói kinh tế). Trong môi trường lạm phát, giá cả tăng không đồng đều chắc chắn làm giảm sức mua của một số người tiêu dùng, và sự xói mòn thu nhập thực tế này là chi phí lớn nhất của lạm phát.

    Lạm phát cũng có thể làm sai lệch sức mua theo thời gian đối với người nhận và người trả lãi suất cố định. Lấy những người hưu trí nhận mức tăng cố định 5% hàng năm vào lương hưu của họ. Nếu lạm phát cao hơn 5 phần trăm, sức mua của người hưu trí sẽ giảm. Mặt khác, một người đi vay trả một khoản thế chấp có lãi suất cố định là 5% sẽ được hưởng lợi từ lạm phát 5%, bởi vì lãi suất thực (tỷ lệ danh nghĩa trừ tỷ lệ lạm phát) sẽ bằng 0; giải quyết khoản nợ này thậm chí sẽ dễ dàng hơn nếu lạm phát cao hơn, miễn là thu nhập của người đi vay theo kịp lạm phát. Tất nhiên, thu nhập thực tế của người cho vay bị ảnh hưởng. Trong phạm vi mà lạm phát không được tính vào lãi suất danh nghĩa, một số tăng và một số mất sức mua.

    Thật vậy, nhiều quốc gia đã phải vật lộn với lạm phát cao – và trong một số trường hợp là siêu lạm phát, 1.000 phần trăm hoặc hơn một năm. Năm 2008, Zimbabwe đã trải qua một trong những trường hợp siêu lạm phát tồi tệ nhất từ trước đến nay, với mức lạm phát hàng năm ước tính ở mức 500 tỷ phần trăm. Mức độ lạm phát cao như vậy là một thảm họa, và các quốc gia đã phải thực hiện các biện pháp chính sách khó khăn và đau đớn để đưa lạm phát trở lại mức hợp lý, đôi khi bằng cách từ bỏ đồng tiền quốc gia của họ, như Zimbabwe đã làm.

    Mặc dù lạm phát cao gây tổn hại cho nền kinh tế, nhưng giảm phát hoặc giá giảm cũng không được mong muốn. Khi giá giảm, người tiêu dùng trì hoãn việc mua hàng nếu họ có thể, dự đoán giá sẽ thấp hơn trong tương lai. Đối với nền kinh tế, điều này có nghĩa là hoạt động kinh tế ít hơn, thu nhập do người sản xuất tạo ra ít hơn và tăng trưởng kinh tế thấp hơn. Nhật Bản là một quốc gia có một thời gian dài gần như không tăng trưởng kinh tế, phần lớn là do giảm phát. Ngăn chặn giảm phát trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu vào năm 2007 là một trong những lý do khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và các ngân hàng trung ương khác trên thế giới giữ lãi suất thấp trong một thời gian dài và đã thiết lập các chính sách tiền tệ khác để đảm bảo hệ thống tài chính có nhiều thanh khoản.

    Hầu hết các nhà kinh tế hiện nay tin rằng lạm phát thấp, ổn định và – quan trọng nhất – có thể dự đoán được là tốt cho một nền kinh tế. Nếu lạm phát thấp và có thể dự đoán được, thì việc nắm bắt nó trong các hợp đồng điều chỉnh giá và lãi suất sẽ dễ dàng hơn, giảm tác động xuyên tạc của nó. Hơn nữa, biết rằng giá cả sẽ cao hơn một chút trong tương lai tạo cho người tiêu dùng động cơ mua hàng sớm hơn, điều này thúc đẩy hoạt động kinh tế. Nhiều ngân hàng trung ương đã đưa ra mục tiêu chính sách chính của họ là duy trì lạm phát thấp và ổn định, một chính sách được gọi là lạm phát mục tiêu.

    Điều gì dẫn đến sự lạm phát?

    Các đợt lạm phát cao kéo dài thường là kết quả của chính sách tiền tệ lỏng lẻo. Nếu cung tiền tăng quá lớn so với quy mô của một nền kinh tế, thì giá trị đơn vị của tiền tệ sẽ giảm đi; nói cách khác, sức mua của nó giảm và giá cả tăng lên. Mối quan hệ giữa cung tiền và quy mô của nền kinh tế được gọi là lý thuyết lượng tiền và là một trong những giả thuyết lâu đời nhất trong kinh tế học.

    Áp lực từ phía cung hoặc cầu của nền kinh tế cũng có thể gây lạm phát. Những cú sốc về nguồn cung làm gián đoạn sản xuất, chẳng hạn như thiên tai, hoặc tăng chi phí sản xuất, chẳng hạn như giá dầu cao, có thể làm giảm nguồn cung tổng thể và dẫn đến lạm phát “chi phí đẩy”, trong đó động lực tăng giá xuất phát từ sự gián đoạn nguồn cung. Lạm phát lương thực và nhiên liệu năm 2008 là một trường hợp như vậy đối với nền kinh tế toàn cầu – giá lương thực và nhiên liệu tăng mạnh được truyền từ nước này sang nước khác theo con đường thương mại. Ngược lại, các cú sốc về nhu cầu, chẳng hạn như thị trường chứng khoán phục hồi hoặc các chính sách mở rộng, chẳng hạn như khi ngân hàng trung ương giảm lãi suất hoặc chính phủ tăng chi tiêu, có thể tạm thời thúc đẩy nhu cầu tổng thể và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nếu sự gia tăng nhu cầu này vượt quá khả năng sản xuất của một nền kinh tế, thì sự căng thẳng về nguồn lực dẫn đến kết quả là phản ánh lạm phát “cầu kéo”. Các nhà hoạch định chính sách phải tìm ra sự cân bằng phù hợp giữa thúc đẩy nhu cầu và tăng trưởng khi cần thiết mà không kích thích quá mức nền kinh tế và gây ra lạm phát.

    Kỳ vọng cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định lạm phát. Nếu mọi người hoặc công ty dự đoán mức giá cao hơn, họ xây dựng những kỳ vọng này thành các cuộc đàm phán tiền lương và điều chỉnh giá theo hợp đồng (chẳng hạn như tự động tăng giá thuê). Hành vi này một phần xác định lạm phát của kỳ tiếp theo; một khi các hợp đồng được thực hiện và tiền lương hoặc giá cả tăng lên theo thỏa thuận, kỳ vọng sẽ tự thực hiện. Và trong phạm vi mà mọi người đặt kỳ vọng của họ vào quá khứ gần đây, lạm phát sẽ theo các mô hình tương tự theo thời gian, dẫn đến quán tính lạm phát.

    Cách các nhà hoạch định chính sách đối phó với lạm phát

    Bộ chính sách khử lạm phát phù hợp, những chính sách nhằm giảm lạm phát, phụ thuộc vào nguyên nhân của lạm phát. Nếu nền kinh tế phát triển quá nóng, các ngân hàng trung ương – nếu họ cam kết đảm bảo ổn định giá cả – có thể thực hiện các chính sách điều chỉnh nhằm kiềm chế tổng cầu, thường bằng cách tăng lãi suất. Một số ngân hàng trung ương đã chọn, với các mức độ thành công khác nhau, áp đặt kỷ luật tiền tệ bằng cách ấn định tỷ giá hối đoái – gắn giá trị của đồng tiền của mình với đồng tiền khác, và do đó chính sách tiền tệ của quốc gia đó với chính sách của quốc gia khác. Tuy nhiên, khi lạm phát được thúc đẩy bởi sự phát triển toàn cầu hơn là trong nước, các chính sách như vậy có thể không giúp ích được gì. Năm 2008, khi lạm phát gia tăng trên toàn cầu do giá thực phẩm và nhiên liệu tăng cao, nhiều quốc gia đã để mức giá cao trên toàn cầu chuyển sang nền kinh tế trong nước. Trong một số trường hợp, chính phủ có thể trực tiếp định giá (như một số trường hợp đã làm vào năm 2008 để ngăn giá thực phẩm và nhiên liệu tăng cao). Các biện pháp ấn định giá hành chính như vậy thường dẫn đến việc chính phủ phải tích lũy các hóa đơn trợ cấp lớn để bù đắp thu nhập bị mất cho người sản xuất.

    Các ngân hàng trung ương đang ngày càng dựa vào khả năng tác động đến kỳ vọng lạm phát như một công cụ giảm lạm phát. Các nhà hoạch định chính sách công bố ý định giữ hoạt động kinh tế tạm thời ở mức thấp để giảm lạm phát, hy vọng sẽ tác động đến kỳ vọng và thành phần lạm phát tích hợp trong hợp đồng. Các ngân hàng trung ương càng có uy tín, ảnh hưởng của các tuyên bố của họ đối với kỳ vọng lạm phát càng lớn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tử Vi Số Mệnh: Có Ngày Tốt Hay Xấu Không?
  • Chậu Rửa Bát Inox Loại Nào Tốt Giữa Sơn Hà, Đại Thành, Toàn Thắng, Tân Á?
  • Cầu Thang Kính Hay Gỗ Rẻ Hơn? Loại Nào Tốt Và Thẩm Mỹ Hơn
  • Đường Ngọt: Tốt Hay Xấu Công Hay Tội?
  • Lactose Là Gì? Lactose Có Trong Thực Phẩm Nào?
  • Lạm Phát Thấp, Tốt Hay Không?

    --- Bài mới hơn ---

  • Lạm Phát Có Ảnh Hướng Như Thế Nào Đến Một Nhà Đầu Tư?
  • Gái Massage Và Những Điều Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Một Số Lưu Ý Khi Đi Massage Mà Bạn Nên Biết
  • Tắm Khuya Rất Nguy Hiểm
  • Tác Hại Khi Tắm Đêm
  • 4 tháng đầu năm nay, lạm phát cơ bản đang ở mức 2,2%

    Như vậy, lạm phát theo cách tính của Việt Nam cho tới thời điểm này mới đang ở mức 0,04%, còn cách xa mục tiêu điều hành lạm phát 5% trong năm nay và thấp nhất trong 10 năm trở lại đây.

    Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, kể từ năm 2006, “vô địch” về lạm phát sau 4 tháng là năm 2008, với mức tăng CPI so với tháng 12 năm 2007 là 11,16%. Năm ngoái, lạm phát sau 4 tháng là 0,88%, vẫn cao hơn nhiều so với mức lạm phát của 4 tháng đầu năm nay – chỉ 0,04%.

    Đây là dấu hiệu cho thấy lạm phát năm nay có thể sẽ tiếp tục ở mức thấp. Năm 2014, lạm phát của Việt Nam là 1,84%.

    Nhưng câu hỏi đặt ra là, lạm phát thấp có phải là tốt hay không?

    Như một lẽ đương nhiên, TS. Trần Du Lịch, chuyên gia kinh tế cho rằng, lạm phát thấp trong khi tăng trưởng cao là tốt. Và ổn định kinh tế vĩ mô là yếu tố tiên quyết tạo điều kiện cho thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

    Trong khi đó, ở một góc nhìn khác, TS. Lê Đình Ân, nguyên Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội Quốc gia cho rằng, lạm phát thấp lại đặt trong bối cảnh sản xuất công nghiệp đang phục hồi (Chỉ số Sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm nay tăng 9,4% so với cùng kỳ – PV), sức mua có dấu hiệu cải thiện (8%, sau khi trừ đi yếu tố giá cả, cao hơn nhiều mức tăng 4,65% và 5,6% của tương ứng hai năm 2013 – 2014 so với cùng kỳ), là một tín hiệu tích cực của nền kinh tế.

    Mặc dù vậy, một cách thẳng thắn, TS. Trần Du Lịch đã nhắc tới sự chênh lệch giữa con số lạm phát thực tế và lạm phát kỳ vọng để nói về cái khó của cộng đồng doanh nghiệp.

    “Năm 2014, lạm phát thực tế chỉ là 1,84%, trong khi lạm phát kỳ vọng là 5-7%. Trong khi đó, ngay từ đầu năm, doanh nghiệp khi xây dựng kế hoạch sản xuất – kinh doanh là dựa trên lạm phát kỳ vọng. Họ chấp nhận vay vốn với lãi suất vẫn 10-11%, nhưng lạm phát thực tế chỉ là 1,84%, như vậy là chi phí tài chính quá đắt. Ai cũng biết tăng trưởng cao mà lạm phát thấp thì là tốt, nhưng đặt trong bối cảnh này thì có phải là tốt hay không?”, ông Lịch đặt câu hỏi.

    Câu hỏi này không phải là không có lý và cũng đã được Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh lý giải rằng, năm 2014, mục tiêu kiểm soát lạm phát được Chính phủ đặt ra ở mức 7%, sau đó kỳ vọng ở mức 4,5 – 5%. Tuy nhiên, do cuối năm, giá dầu trên thị trường thế giới giảm mạnh từ mức 120 USD xuống chỉ còn khoảng 40 USD/thùng, lại cộng thêm giá lương thực, thực phẩm giảm, giá dịch vụ công được giữ ổn định, nên lạm phát cả năm chỉ ở mức 1,84%.

    Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng cũng có chung quan điểm như vậy và cho biết, sau khi loại trừ các yếu tố nói trên, lạm phát cơ bản năm 2014 vẫn là 4,7% – một con số không thấp hơn lạm phát kỳ vọng.

    Tuy nhiên, theo TS. Lê Đình Ân, vẫn phải tính đến một nghịch lý ở nền kinh tế Việt Nam hiện nay, như TS. Trần Du Lịch đã đề cập, đó là lạm phát dù thấp nhưng lãi suất vay vốn vẫn ở mức cao. “Nguyên nhân cơ bản là do vấn đề nợ xấu chậm được xử lý. Cần phải đẩy nhanh tiến trình này để doanh nghiệp được hưởng một mức lãi suất hợp lý hơn”, ông Ân nói.

    Theo Đầu Tư

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Đội Và Lính Vnch
  • Hình Ảnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Trong Mắt Lính Mỹ
  • Suy Nghĩ Của Giới Trẻ Trong Nước Về Việt Nam Cộng Hòa
  • Vì Sao Vnch Không Còn Là ‘ngụy Quân Ngụy Quyền’?
  • Từ Nay Về Sau Không Gọi Chế Độ Vnch Là Ngụy Quân, Ngụy Quyền Nữa? Vậy Chúng Ta Hãy Cùng Nhau Tìm Hiểu Và Bàn Luận Nhé!
  • Chiều Hướng Giảm Của Lạm Phát Tại Trung Quốc. Tốt Hay Xấu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khi Đồng Tiền Giảm Giá Là Tốt Hay Xấu Cho Xuất Khẩu?
  • Thói Quen Tắm Trước Khi Ngủ Là Tốt Hay Xấu: Chuyên Gia Khuyên Cách Tắm Có Lợi Nhất
  • Coi Lịch Ngày 23/3/2021 Là Tốt Hay Xấu?
  • Ngày 10 Tháng 1 Năm 2022 Là Ngày Tốt Hay Xấu? Xem Ngày 10/1/2021
  • Xem Lịch Ngày 10 Tháng 10 Năm 2022
  • Trước những số liệu được công bố hôm chủ nhật (9/6), mức tăng trưởng của Trung Quốc có thể chậm hơn nữa khi những hoạt động làm dịu nền kinh tế trong tháng năm đang đối mặt với suy giảm toàn cầu kéo dài, nâng cao khả năng cắt giảm lãi suất.

    Những bằng chứng được gắn kết gần đây cho thấy nền kinh tế của Trung Quốc đang nhanh chóng mất đà tăng trưởng, với nhu cầu trong nước chậm chạp không thể bù đắp cho doanh thu xuất khẩu, khi các đối tác thương mại chính của nước này cũng đang vật lộn với sự trì trệ.

    Một loạt các số liệu cuối tuần qua củng cố thêm luận điểm, với kim ngạch xuất khẩu tháng năm đang ở mức tăng trưởng thấp nhất trong năm, lạm phát, mức tăng trưởng tín dụng ngân hàng, đầu tư thấp hơn kỳ vọng, sản lượng hàng hóa và doanh số bán lẻ, tất cả chỉ về cùng một nhịp độ như trong trước tháng.

    Louis Kuijs, chuyên gia phân tích kinh tế Trung Quốc của Ngân Hàng Hoàng Gia Scotland (RBS), cho biết: số lượng hoạt động tiếp tục được mở rộng nhưng tăng trưởng vẫn không đủ thuyết phục và động lực dường như đã bị mất tốc độ trong tháng 5. Ông còn cho biết thêm: triển vọng tăng trưởng trong ngắn hạn vẫn chịu rủi ro và chúng tôi cũng có thể sẽ sửa đổi lại dự báo tăng trưởng sắp tới cho năm 2013.

    Tổng Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc (NBS) ngày 9/6 công bố báo cáo cho biết chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của nước này trong tháng 5 vừa qua là 2,1%, mức thấp nhất trong ba tháng qua, trong khi chỉ số giá sản xuất (PPI) – mức đo lạm phát ở cấp độ bán buôn, giảm 2,9%, mức thấp nhất kể từ tháng Chín, thấp hơn nhiều so với mức dự báo 2,5% của giới chuyên gia.

    “Các dữ liệu lạm phát đã cho thấy tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc tiếp tục chậm lại. Tăng trưởng quý II có lẽ thậm chí chậm hơn so với quý I. Đặc biệt, các dữ liệu PPI cho thấy nhu cầu rất yếu”, Jianguang Shen, chuyên gia phân tích kinh tế Trung Quốc tại Mizuho Securities Asia – Hồng Kông cho biết.

    Dữ liệu ngân hàng trung ương cho thấy các ngân hàng Trung Quốc cho vay 667,4 tỷ nhân dân tệ (khoảng 109 tỷ USD) trong các khoản vay mới trong tháng, quá xa so với mức kỳ vọng thị trường là 850 tỷ nhân dân tệ và thấp hơn so với tháng tư là 792,9 tỷ nhân dân tệ.

    Trong khi đó, mức tăng trưởng doanh số bán lẻ, đầu tư tài sản cố định và sản lượng công nghiệp chỉ đủ đáp ứng mong đợi ở 12,9%, 20,4% và 9,2% tương ứng, nhưng những con số đã thay đổi chút ít so với tháng trước.

    Số liệu chính thức vào thứ 7 cũng cho thấy, xuất khẩu của Trung Quốc đang ở tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong gần một năm, trong khi nhập khẩu bất ngờ giảm.

    Tuy nhiên, các nhà kinh tế của chính phủ từ những chiến lược gia hàng đầu ở Bắc Kinh nói với Reuters trong tuần này rằng sự lãnh đạo mới của Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường sẽ cố gắng giữ mức tăng trưởng hàng quý không trượt xa mức 7% trước khi tìm cách để nâng nền kinh tế.

    “Giá bất động sản sẽ nhảy nhót nếu cắt giảm lãi xuất, cũng như các biện pháp làm mát của chính phủ gần đây đã không đạt được kết quả mong muốn. Và cắt giảm lãi xuất có thể không có hiệu quả trong việc làm chậm dòng tiền đầu cơ, mà chủ yếu là kỳ vọng vào sự nâng giá trị của đồng nhân dân tệ.” Tang Jianwei, nhà kinh tế cao cấp của Ngân hàng truyền thông ở Thượng Hải cho biết.

    Theo nguồn thông tin của Reuters hồi tháng 5, một sự đồng thuận đạt được giữa các lãnh đạo cấp cao cho rằng cải cách sẽ là cách duy nhất để đưa nền kinh tế lớn thứ hai thế giới phát triển trên cơ sở bền vững hơn.

    Tuy lạm phát giảm, nhưng mức cho vay của các ngân hàng không tăng, từ đó cho thấy các biện pháp hồi phục kinh tế đã không kích thích được mức tiêu dùng, kéo theo một loạt hệ quả phải giảm chỉ số sản xuất và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cũng có thể giảm theo.

    Tình trạng kinh tế này kéo dài có thể sẽ chuyển lạm phát thành giảm phát, một đường trượt dài của giá trị đồng tiền. Vậy cuối cùng lạm phát tăng hay giảm là tốt?

    Đức Tâm (lược dịch từ Reuters)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lạm Phát Là Gì? Những Thảm Kịch Siêu Lạm Phát Tồi Tệ Nhất Lịch Sử
  • Lạm Phát Là Gì? Nguyên Nhân Nào Gây Sự Lạm Phát?
  • Cách Đo Lường Và Quản Lý Lạm Phát Thế Nào?
  • Tác Động Hai Mặt Của Lạm Phát Thấp
  • Những Câu Nói Ấn Tượng Nhất Trong Lịch Sử Điện Ảnh Của Các Nhân Vật Phản Diện Nổi Tiếng
  • Chống Lạm Phát Hay Giảm Phát?

    --- Bài mới hơn ---

  • ‘xu Thế Ghét Trung Quốc’
  • Marketing Không Phải Xấu, Đó Là Tạo Nên Thương Hiệu Tốt
  • Lợi Ích Và Tác Hại Của Rượu
  • Tác Hại Của Rượu Bia Với Sức Khỏe Con Người
  • Cánh Mày Râu Có Nên Theo Xu Hướng “Thả Rông”?
  • TS. Nguyễn Đức Độ

    Tại sao lạm phát thấp? Đâu là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này hiện nay, thưa ông?

    Có 2 nhóm yếu tố tác động đến chỉ số lạm phát: Nhóm thứ nhất là cầu kéo, nhóm thứ hai là chi phí đẩy.

    Theo tính toán của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm, tỷ giá tăng 2% khiến chỉ số CPI tăng thêm 0,6% và giá điện tăng 8,42% đẩy chỉ số CPI tăng thêm 0,22%. Về giá dầu, mặt bằng giá xăng dầu trên thế giới cũng như trong nước vào thời điểm giữa tháng 6/2015 đã ở mức ngang bằng so với giữa tháng 12/2014. Như vậy, trong nửa đầu năm 2022 các yếu tố chi phí đẩy, về cơ bản, có tác động kéo lạm phát gia tăng. Do đó, tình trạng lạm phát thấp hiện nay chỉ có thể được giải thích bởi nguyên nhân còn lại – động thái của tổng cầu.

    Kể từ năm 2008 đến nay, tăng trưởng kinh tế luôn trong tình trạng thấp hơn mức tiềm năng (khoảng 6,5%), tức là tốc độ tăng của tổng cầu luôn yếu hơn tốc độ tăng của tổng cung. Khi tổng cầu luôn tăng chậm hơn tổng cung, chênh lệch tổng cầu – tổng cung liên tục giảm và kéo lạm phát giảm theo.

    Liệu có điều gì ẩn sau lạm phát thấp? Với thực trạng giá và lạm phát như thế này, liệu có mừng vui khi giá thấp, chi tiêu của dân chúng dễ chịu hơn và chính sách điều hành rõ ràng đã đạt mục tiêu mong muốn?

    Đối với người tiêu dùng, đặc biệt là người nghèo, xu hướng giá cả tăng chậm là một tin vui. Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách cần nhìn xa và rộng hơn. Cuộc sống của người dân chỉ thực sự được cải thiện khi họ có việc làm ổn định, thu nhập tăng đều. Nhưng doanh nghiệp chỉ có thể tăng đầu tư và mở rộng kinh doanh, thuê thêm lao động, nếu công việc làm ăn mang lại lợi nhuận. Muốn vậy, một trong những điều kiện cần là chi phí vay vốn phải hợp lý. Nếu không, sớm hay muộn các doanh nghiệp này cũng sẽ thu hẹp quy mô sản xuất. Cả doanh nghiệp và Chính phủ chắc chắn sẽ gặp khó khăn trong việc trả nợ.

    Ông dự báo diễn biến lạm phát những tháng tới như thế nào? Dự báo sai số đến đâu?

    Mặc dù Quốc hội đặt ra mức lạm phát mục tiêu cho năm 2022 là 5%, nhưng gần đây một số dự báo cho rằng, lạm phát trong năm nay chỉ khoảng 3-3,5%. Tuy nhiên, các dự báo này vẫn cao. Trong 6 tháng đầu năm 2022, lạm phát chỉ tăng trung bình 0,1% mỗi tháng, trong khi để đạt mức tăng 3,5% trong cả năm, mỗi tháng còn lại chỉ số CPI phải tăng 0,5%/tháng. Điều này rất khó trở thành hiện thực nếu không có những đột biến lớn.

    Việc kỳ vọng chỉ số giá CPI trong những tháng còn lại của năm tiếp tục tăng 0,1%/tháng, theo tôi, hợp lý hơn. Nếu vậy, lạm phát trong năm 2022 sẽ chỉ xoay quanh mức 1%. Một số mô hình dự báo lạm phát cùng kỳ và lạm phát trung bình của năm 2022 cũng cho kết quả như vậy với sai số chuẩn là 1,5 điểm phần trăm.

    Nếu nhìn xa hơn, lạm phát trong giai đoạn tới sẽ phụ thuộc vào tốc độ phục hồi của nền kinh tế cũng như mức điều chỉnh tỷ giá NHNN thực hiện mỗi năm. Nếu nền kinh tế chỉ tăng trưởng 6-6,25%/năm, xác suất rơi vào giảm phát là không nhỏ. Để nền kinh tế tránh xa vùng giảm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế cần đạt mức từ 6,5% trở lên. Nếu kinh tế tăng trưởng tới 7%/năm, tình trạng lạm phát cao vẫn chưa xảy ra.

    Kết quả dự báo này cũng phần nào lý giải cho câu hỏi: tại sao Chính phủ lại đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP cho giai đoạn 2022-2020 ở mức 6,5-7%. Tuy nhiên, thách thức ở chỗ: làm thế nào để đạt được mức tăng trưởng này?

    Một số kịch bản lạm phát giai đoạn 2022-2018 (%)

    Vậy, chính sách tới đây sẽ nên thay đổi theo hướng nào? (lo giảm phát hay lạm phát)

    Vì vậy, các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách lãi suất, cần hướng tới việc hỗ trợ tổng cầu.

    Hiện nay có một số lo ngại lạm phát cao có thể quay trở lại như giai đoạn 2007-2011 do NHNN mua nhiều USD trong những năm gần đây đã khiến lượng cung tiền tăng mạnh. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, bối cảnh đã thay đổi. Trong giai đoạn 2007-2011, nền kinh tế giống như một cục than hồng, chỉ cần một luồng gió thổi qua là ngọn lửa lại bùng lên. Tuy nhiên, sau nhiều năm tăng trưởng dưới mức tiềm năng, đồng thời xuất hiện thêm vấn đề nợ xấu, trạng thái của nền kinh tế hiện đã nguội đi nhiều.

    Cung tiền tăng mạnh chỉ là điều kiện cần để tạo nên lạm phát. Điều kiện đủ là tiền phải đến được túi của người dân và họ phải sẵn sàng chi tiêu. Vì thế, khi tăng trưởng còn yếu hơn tiềm năng, chúng ta không nên quá lo ngại lạm phát cao quay trở lại.

    Nhưng cung tiền tăng mạnh có thể ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô thông qua các kênh như vàng, USD…?

    Các dòng tiền đầu cơ luôn là một phần của nền kinh tế thị trường và không thể loại bỏ hoàn toàn. Khi cung tiền tăng, các thị trường vàng, USD, bất động sản, chứng khoán sẽ có cơ hội để phát triển và NHNN sẽ phải cố gắng thu hẹp các dòng tiền đầu cơ đến mức tối thiểu để ổn định hệ thống tài chính.

    Tuy nhiên, khi chính sách hạn chế các dòng tiền đầu cơ ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu khác như tăng trưởng, việc làm… NHNN sẽ phải lựa chọn. Xét trên một góc độ nào đó, đây là cái giá phải trả của việc nới lỏng tiền tệ.

    Trong giai đoạn 2012-2014, NHNN đã rất thành công trong việc hạ lãi suất, giảm lạm phát đồng thời với ổn định tỷ giá và thị trường vàng. Một trong những lý do dẫn đến thành công này là các dòng tiền nóng đã hướng vào thị trường trái phiếu.

    Theo số liệu mới được Tổng cục Thống kê công bố, chỉ số giá tiêu dùng CPI trong tháng 6/2015 tăng 0,55% so với tháng 12/2014 và tăng 1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng thấp nhất trong tháng 6 kể từ năm 2001 đến nay. Tốc độ lạm phát trong vòng 1 năm qua đang có xu hướng giảm mạnh. Nền kinh tế hiện đang ở tương đối gần mức lạm phát 0%, đồng thời lại đang ở rất xa mức lạm phát mục tiêu là 5%.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giảm Phát: Tốt Hay Xấu
  • Da Nhăn, Nhanh Già, Chóng Chết
  • Should My Child Take Online Courses? Pros And Cons Of Studying Online
  • Ưu Điểm Và Nhược Điểm Của Việc Học Online
  • Sang Sannin! Ini Dia 10 Fakta Orochimaru Yang Harus Kamu Ketahui!
  • Lạm Phát Là Gì? Nguyên Nhân Nào Gây Sự Lạm Phát?

    --- Bài mới hơn ---

  • Lạm Phát Là Gì? Những Thảm Kịch Siêu Lạm Phát Tồi Tệ Nhất Lịch Sử
  • Chiều Hướng Giảm Của Lạm Phát Tại Trung Quốc. Tốt Hay Xấu?
  • Khi Đồng Tiền Giảm Giá Là Tốt Hay Xấu Cho Xuất Khẩu?
  • Thói Quen Tắm Trước Khi Ngủ Là Tốt Hay Xấu: Chuyên Gia Khuyên Cách Tắm Có Lợi Nhất
  • Coi Lịch Ngày 23/3/2021 Là Tốt Hay Xấu?
  • Lạm phát là gì? Nếu bạn thường xuyên theo dõi các tin tức về kinh tế, chính trị, bạn sẽ thường nghe đến cụm từ “lạm phát”. Đối với một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến lạm phát? Lạm phát ảnh hưởng như thế nào đến đời sống xã hội? Cùng tìm hiểu ngay:

    Lạm phát là gì? Nguyên nhân gây lạm phát là gì?

    Định nghĩa: Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định. Trong thời kỳ lạm phát, đồng tiền của một quốc giá sẽ bị mất giá trị hơn so với trước.

    Khi mức giá hàng hóa tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa hơn so với trước đây. Vậy nên lạm phát cũng phản ánh sự suy giảm sức mua của đồng tiền.

    Nếu so sánh nền kinh tế này với nền kinh tế khác, lạm phát được định nghĩa là sự giảm giá trị đồng tiền của quốc gia này so với đồng tiền của quốc gia khác.

    Các mức độ lạm phát

    Nếu bạn tự hỏi chúng ta đo lường lạm phát như thế nào, siêu lạm phát là gì, chỉ số lạm phát là gì… thì chúng tôi sẽ có câu trả lời cho bạn. Lạm phát có thể được phân loại thành 3 mức độ là:

    Lạm phát tự nhiên (0 – 10%): Giá cả tăng khá chậm, lạm phát có thể dự đoán được và tăng 1 con số hàng năm.

    Lạm phát phi mã (10 – < 1000%): Tỷ lệ lạm phát tăng nhanh từ 2 – 3 con số, thị trường kinh tế không ổn định, đồng tiền mất giá và lãi suất thực tế âm.

    Những nguyên nhân dẫn đến lạm phát

    Lạm phát do cầu kéo

    Lạm phát do cầu kéo là tình trạng nhu cầu tiêu dùng của thị trường tăng lên với tốc độ nhanh bất thường. Nếu nhu cầu sử dụng một hàng hóa nào đó tăng quá nhanh, các doanh nghiệp sản xuất không kịp, thì giá của mặt hàng này sẽ tăng lên.

    Lạm phát do chi phí đẩy

    Chi phí đẩy của các doanh nghiệp là các yếu tố như giá nguyên liệu nhập vào, tiền lương, tiền bảo hiểm cho nhân viên, chi phí đầu tư cho máy móc, thiết bị, thuế… Trong trường hợp giá thàng của một (hoặc nhiều) yếu tố này tăng lên thì chi phí sản xuất cũng tăng lên.

    Điều này bắt buộc doanh nghiệp phải tăng giá của hàng hóa mà họ sản xuất ra để đảm bảo lợi nhuận. Từ đó mức giá chung cũng tăng lên, dẫn dến tình trạng lạm phát.

    Lạm phát do cơ cấu

    Nếu doanh nghiệp thay đổi cơ cấu (có mức độ tăng trưởng tốt), họ thường tính đến phương án tăng tiền lương cho công – nhân viên. Ngoài ra, cũng có những doanh nghiệp tăng trưởng kém hoặc chậm, nhưng theo xư thế vẫn phải tăng lương cho người lao động.

    Lúc nào, doanh nghiệp sẽ buộc phải tăng giá các hàng hóa của mình để thu lại lợi nhuận. Tình trạng này cũng dẫn đến lạm phát cho thị trường.

    Lạm phát do cầu thay đổi

    Nếu như trên thị trường xuất hiện một doanh nghiệp cung cấp độc quyền một loại sản phẩm không bao giờ giảm giá mà chỉ thấy tăng, thì giá của các hàng hóa, dịch vụ phụ thuộc vào sản phẩm đó cũng tăng theo (ví dụ như điện). Kết quả là giá thành chung tăng đồng thời làm phát sinh lạm phát.

    Lạm phát do xuất khẩu

    Nếu sản phẩm do doanh nghiệp trong nước sản xuất nhưng lại tập trung đem đi xuất khẩu cho các quốc gia khác thì cũng không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng trong nước. Từ đó dẫn đến giá sản phẩm tăng mạnh, lượng cung giảm và lượng cầu tăng và kết quả là lạm phát xuất hiện.

    Lạm phát do nhập khẩu

    Trong trường hợp giá của các hàng hóa được nhập khẩu quá cao, mà giá trị tiền tệ trong nước bị mất giá so với ngoại tệ thì người tiêu dùng phải sử dụng những hàng hóa đắt đỏ, dẫn đến lạm phát trong 1 quốc gia.

    Lạm phát tiền tệ

    Lạm phát tiền tệ là tình trạng xảy ra khi nguồn cung tiền tệ trong nước tăng quá cao. Các ngân hàng phải thực hiện chính sách mua ngoại tệ để tránh làm mất giá trị của đồng tiền trong nước. Hoặc nếu các ngân hàng mua công trái theo yêu cầu của nhà nước cũng góp phần làm cho lạm phát xuất hiện.

    Tại thị trường Việt Nam, các nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát là tình trạng “lạm phát do cầu kéo” và “lạm phát do chi phí đẩy“.

    Ảnh hưởng của lạm phát là gì?

    Tiêu cực:

    Lạm phát ảnh hưởng rất tiêu cực đến nền kinh tế, văn hóa, chính trị, có khả năng gây ra tình trạng suy thoái kinh tế, tăng tỷ lệ thất nghiệp.

    + Lãi suất: Lạm phát xảy ra làm lãi suất danh nghĩa tăng lên để lãi suất thực được ổn định nhưng cũng làm nảy sinh suy thoái kinh tế.

    + Thu nhập của người lao động: Khi thị trường lạm phát, tuy thu nhập danh nghĩa của người lao động không thay đổi nhưng thu nhập thực tế lại giảm. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động và cả doanh nghiệp.

    + Thu nhập không bình đẳng: Lạm pjast khiến tình trạng vơ vét hàng hóa và chờ đầu cơ làm mất cân bằng cung cầu trên thị trường. Kết quả là người nghèo không có đủ hàng hóa để sử dụng, người giàu lại càng ngày càng giàu, làm rối loạn nền kinh tế, tạo ra thu nhập không bình đẳng.

    + Nợ quốc gia: Các quốc gia đang phát triển thường có những khoản nợ nước ngoài. Nếu lạm phát xuất hiện sẽ làm tỷ giá hối đoái giá tăng, đồng tiền trong nước mất giá hơn so với nước ngoài. Phía chính phủ được lợi từ nguồn tiền nội địa, nhưng thiệt hại so với ngoại tệ, dẫn đến tình trạng nợ quốc gia càng trầm trọng hơn.

    Tích cực

    Khi tốc độ lạm phát tự nhiên được duy trì ổn định từ 2 – 5% thì tốc độ phát triển kinh tế của đất nước đó khá ổn định:

    – Tỷ lệ thất nghiệp giảm, tiêu dùng tăng, vay nợ và đầu cơ an toàn hơn

    – Chính phủ có thêm nhiều lựa chọn về công cụ kích thích đầu tư vào nội tệ.

    Các phương án kiểm soát lạm phát

    Việc kiểm soát lạm phát để bảo vệ kinh tế – xã hội luôn được các quốc gia đặt lên hàng đầu. Một số phương án kìm chế lạm phát phổ biến thường gặp đó là:

    • Tạm ngưng phát hành tiền để giảm lượng tiền đưa vào lưu thông trong xã hội.
    • Giảm chi ngân sách: Giảm chi tiêu thường xuyên và cắt giảm đầu tư công.
    • Tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng thông qua việc giảm thuế quan, khuyến khích tự do mậu dịch….
    • Giảm thuế
    • Tăng thuế tiêu dùng để giảm bớt nhu cầu chi tiêu cá nhân, tăng nguồn cung các hàng hóa – dịch vụ trong xã hội.
    • Tăng lãi suất tiền gửi, phát hành trái phiếu, giảm sức ép lên giá cả hàng hóa dịch vụ…
    • Thực hiện các chính sách thắt chặt tài chính như: cắt giảm chi tiêu, tạm hoãn những khoản chưa cần thiết, cân đối lại ngân sách nhà nước
    • Vay viện trợ từ nước ngoài…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Đo Lường Và Quản Lý Lạm Phát Thế Nào?
  • Tác Động Hai Mặt Của Lạm Phát Thấp
  • Những Câu Nói Ấn Tượng Nhất Trong Lịch Sử Điện Ảnh Của Các Nhân Vật Phản Diện Nổi Tiếng
  • Huyễn Tưởng Về Người Tốt, Kẻ Xấu
  • Đàn Ông Có Lông Bụng Nhiều Là Người Như Thế Nào?
  • Giảm Phát: Tốt Hay Xấu

    --- Bài mới hơn ---

  • Chống Lạm Phát Hay Giảm Phát?
  • ‘xu Thế Ghét Trung Quốc’
  • Marketing Không Phải Xấu, Đó Là Tạo Nên Thương Hiệu Tốt
  • Lợi Ích Và Tác Hại Của Rượu
  • Tác Hại Của Rượu Bia Với Sức Khỏe Con Người
  • Giảm phát: tốt hay xấu

    Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

    Bài 35:

    Giảm phát: tốt hay xấu

    Đến tháng 8/2003, chỉ số CPI của Việt Nam đã giảm liên tục trong 4 tháng. Mọi người đều nói “giảm phát”. Thực ra khái niệm giảm phát đã xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam từ năm 2000. Về trực giác, người tiêu dùng thích giảm phát nhưng người sản xuất lại chẳng ưa gì. Thực chất thì giảm phát là tốt hay xấu ?

    Giảm phát tốt xảy ra khi môi trường kinh doanh cởi mở hơn, các mức giá bị các nhà độc quyền đẩy lên cao nay phải giảm dưới áp lực cạnh tranh. Một tình huống tốt khác là trong thị trường tự do, những người sản xuất với năng suất cao hơn sẽ vươn lên, giá thành sản phẩm sẽ giảm xuống, giá hàng giảm làm người tiêu dùng mua nhiều hơn, và kết quả là giá thành mỗi đơn vị sản phẩm càng giảm.

    Giảm phát không tốt xảy ra khi giá giảm nhưng số hàng bán không tăng. Các công ty phải giảm quy mô sản xuấtthải bớt nhân công. Trước nguy cơ mất việc, mọi người sẽ tiết kiệm nhiều hơn và chi tiêu ít hơn. Kết quả là giảm phát trở nên trầm trọng.

    Dạng giảm phát tồi tệ hơn khi các doanh nghiệp kém hiệu quả được trợ giá để tiếp tục hoạt động. Để cạnh tranh với các doanh nghiệp này, các công ty khỏe mạnh phải hạ giá bán và chẳng mấy chốc cũng trở nên ốm yếu.

    Giảm phát là tồi tệ nhất khi quá nhiều vốn và vốn vay ào ạt đổ vào một cách lạc quan, làm cho cung vượt xa cầu. Hàng không bán được nhưng nợ vẫn phải trả, cả các công ty tốt cũng có nguy cơ phá sản.

    Việt Nam ở đâu trong những tình huống tốt và xấu nêu trên? Chỉ số CPI của ta dựa nhiều vào giá lương thực và nông sản. Những năm gần đây, giá nông sản trên thế giới giảm do dư cung, ví dụ như gạo, cà phê, tiêu v.v… Nông dân ở Indonesia, Braxin và Việt Nam chẳng thể làm gì ngoài việc chờ xem ai sẽ phải chặt bỏ cà phê trước. Họ không trách nhau, nhưng chê các chính phủ đã chẳng giúp họ những thông tin và dự báo chính xác

    English:

    Deflation: good or bad

    Until August 2003, the CPI of Vietnam has been decreased for four consecutive months. Everyone says “deflation”. In fact, the concept of deflation appeared in Vietnam for the first time in 2000. Intuitionally, consumers love deflation but producers hate it. Overall, is it good or bad?

    Good deflation happens when the business environment becomes more open, high prices set by monopolists are reduced under competition. Another good scenario occurs due to free market. In that environment, producers with better productivity will thrive, cost of production becomes lower, price is down, consumers purchase more, and in turn, the unit cost of production goes further down.

    Bad deflation happens when prices are down but unit sales are not up. Firms have to reduce the production scale and lay off workers. Facing higher job uncertainty, consumers will save more and spend less. Then deflation can become severer.

    The worse deflation may occur when inefficient firms are subsidized to stay in business. In order to compete with these firms, healthy ones will have to lower their prices and will soon get sick, too.

    The worst deflation occurs when too much loans and capital optimistically rush in, causing supply move far ahead of demand. Products cannot be sold but loans are still due and bankruptcy may occur, even to the good firms.

    So where is Vietnam deflation among the above good and bad scenarios? Our CPI is based heavily on foods and agriculture products. In recent years, the world prices of agriculture products were down because of excess supply, such as the supply of rice, coffee, pepper, etc. Farmers in Indonesia, Brazil, and Vietnam could do nothing but wait for each other to chop down coffee trees. Instead of denouncing each other, they criticize government for failing to support them with proper information and forecasting.

    (Đường dẫn tới các bài trước được đăng trong mục Tin bài khác bên dưới)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Da Nhăn, Nhanh Già, Chóng Chết
  • Should My Child Take Online Courses? Pros And Cons Of Studying Online
  • Ưu Điểm Và Nhược Điểm Của Việc Học Online
  • Sang Sannin! Ini Dia 10 Fakta Orochimaru Yang Harus Kamu Ketahui!
  • Tắm Khuya Rất Nguy Hiểm – Bạn Đã Biết
  • Lạm Phát Là Gì? Những Tác Động Của Lạm Phát Đến Nền Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Chăm Sóc Phụ Nữ Sau Sinh
  • Phong Du Lạc One Piece
  • Hạn Kim Lâu Là Gì? Cách Tính Và Giải Hạn Kim Lâu? Giá Mộ Đá Tam Sơn Ninh Bình
  • Làm Việc Lâu Năm Ở Một Công Ty Là Tốt Hay Xấu?
  • Ý Nghĩa Sao Thổ Tú Tốt Hay Xấu Chiếu Mệnh Nam Nữ Tuổi Nào Năm 2022
  • Nội dung bài viết (chọn nhanh)

    Lạm phát là gì?

    Lạm phát được hiểu là tình trạng giảm sức mua của đồng tiền do hiện tượng hàng hóa tăng giá so với một mốc thời gian nào đó trong quá khứ. Mốc thời gian này thường được so với 1 năm trước hoặc ngắn hơn. Hoặc có một định nghĩa khác rằng lạm phát tức là sự phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại ngoại tệ khác trong một nền kinh tế.

    Người ta thường đo mức độ lạm phát từ việc thu thập dữ liệu của các tổ chức, liên đoàn lao động cũng như các loại tạp chí kinh doanh, từ đó theo dõi sự thay đổi của giá cả của một số lượng lớn hàng hóa và dịch vụ. Mức giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổng hợp lại với mục đích là thống nhất một mức giá trung bình và tỷ lệ lạm phát được thể hiện qua chỉ số giá cả.

    (Chỉ số giá cả là tỷ lệ % mức tăng của giá trung bình của hiện tại với thời điểm được đem ra so sánh.)

    Lạm phát được sinh ra do một số điều kiện cụ thể và mang tính liên tục với những đặc điểm như:

    Lạm phát không phải một sự kiện ngẫu nhiên, sự tăng giá cả của hiện tượng này bắt đầu và tăng liên tục, đột ngột. Tuy nhiên cũng có một vài trường hợp sự tăng giá đột ngột không phải là lạm phát mà là sự biến động giá tương đối. Hiện tượng này chỉ xảy ra khi vấn đề cung, cầu không ổn định trong một thời gian ngắn. Tình trạng giá cả sẽ ổn định hơn khi cung tăng để đáp ứng được cầu. Còn lạm phát thì là sự tăng giá liên tục và không dừng lại ở mức độ ổn định.

    Lạm phát là sự ảnh hưởng chung của tất cả các hàng hóa và dịch vụ của một nền kinh tế chứ không phải riêng một mặt hàng nào cả. Biến động giá tương đối chỉ là một hoặc hai hàng hóa cố định.

    Lạm phát là hiện tượng lâu dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế của một quốc gia hoặc khu vực trong vài năm liền. Các quốc gia hiện đại đều tiến hành các vấn đề đo lường hàng năm để có thể hạn chế khả năng lạm phát thấp nhất có thể.

    Lạm phát được chia thành 3 mức độ bao gồm:

    • Lạm phát tự nhiên (0 – 10%): Giá cả tăng khá chậm, lạm phát có thể dự đoán được và tăng 1 con số hàng năm.
    • Lạm phát phi mã (10 – < 1000%): Tỷ lệ lạm phát tăng nhanh từ 2 – 3 chữ số, thị trường tài chính không ổn định, đồng tiền mất giá và lãi suất thực tế âm.

    Các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển thường kỳ vọng mức lạm phát tự nhiên dưới 5% bởi nếu tăng trưởng kinh tế kỳ vọng khoảng 10%, tiền mất giá khoảng 5% thì quốc gia đó có 5% tăng trưởng thực sự.

    Cầu kéo là hiện tượng nhu cầu về sử dụng một loại mặt hàng nào đó tăng lên dẫn đến giá cả tăng kéo theo giá của nhiều loại hàng hóa khác cũng tăng. Ví dụ như trong mùa dịch Corona, nhu cầu mua các loại khẩu trang, dung dịch rửa tay tăng lên khiến giá cả các loại mặt hàng này tăng lên nhanh chóng. Theo đó giá của các loại thực phẩm hàng ngày cũng tăng theo dẫn đến lạm phát.

    Lạm phát do cầu kéo

    Chi phí đẩy được hiểu là các vấn đề chi tiêu của một doanh nghiệp như đầu tư vào các loại máy móc, thuế, trả tiền lương cho nhân viên, đóng thuế… Giá cả của một vài yếu tố tăng lên dẫn đến tổng chi phí của doanh nghiệp tăng, công ty cần phải tăng giá các mặt hàng lên nhằm đảm bảo lợi nhuận. Nhưng điều này đã dẫn đến mức giá chung của các mặt hàng trong nền kinh tế tăng lên.

    Trong một nhóm ngành kinh tế hoạt động không có hiệu quả thì doanh nghiệp vẫn phải bắt buộc tăng lương cho người lao động do xu thế của thị trường là tăng dần tiền công danh nghĩa. Song song với việc đó, doanh nghiệp bắt buộc phải tăng giá thành sản phẩm để đảm bảo lợi nhuận dẫn đến phát sinh lạm phát.

    Lạm phát do cơ cấu

    Một thị trường ổn định tức là lượng cung và lượng cầu tương đương nhau. Lạm phát có thể xuất hiện do cầu thay đổi khi trên thị trường khi xuất hiện mặt hàng có tính chất cứng nhắc chi có tăng giá nhưng không có giảm. Khi nhu cầu sử dụng mặt hàng đó giảm nhưng vẫn không có dấu hiệu giảm giá, mặt hàng khác lại tăng giá dẫn đến mức giá chung tăng. Chúng ta có một ví dụ điển hình là giá điện ở Việt Nam.

    Tổng cầu sẽ tăng lên do xuất khẩu phát triển nhưng tổng cung vẫn chưa đáp ứng được. Việc liên tục thu gom các sản phẩm hàng hóa để phục vụ xuất khẩu khiến mặt hàng trong nước giảm làm tổng cung nhỏ hơn tổng cầu làm mất cân bằng và xuất hiện hiện tượng lạm phát.

    Lạm phát do xuất khẩu

    Ngược lại với xuất khẩu, hiện tượng giá cả nhập khẩu tăng làm cho giá bán sản phẩm nhập khẩu cũng tăng dẫn đến lạm phát.

    Lạm phát tiền tệ thường bắt nguồn từ ngân hàng, khi lượng tiền lưu hành trong nước tăng cũng rất dễ gây ra hiện tượng lạm phát. Ví dụ như ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để không làm mất giá nội tệ hoặc ngân hàng mua công trái theo yêu cầu của nhà nước làm lượng tiền lưu thông tăng lên.

    Lạm phát tiền tệ

    Lãi suất: Lạm phát ảnh hưởng rất tiêu cực đến nền kinh tế , chính trị, văn hóa, nó có khả năng gây ra tình trạng suy thoái kinh tế, tăng tỷ lệ thất nghiệp. Tác động đầu tiên của lạm phát là lãi suất khiến lãi suất danh nghĩa tăng lên để lãi suất thực được ổn định nhưng cũng khiến suy thoái kinh tế bắt đầu phát triển.

    Thu nhập thực tế của người lao động: Khi xuất hiện lạm phát, thu nhập danh nghĩa của người lao động không thay đổi, tuy nhiên thu nhập thực tế lại giảm. Bởi lẽ thu nhập ròng của người lao động sẽ bằng thu nhập danh nghĩa của chữ tỷ lệ lạm phát bị giảm. Đó không chỉ là vấn đề của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động cũng như lòng tin của họ đối với Chính Phủ.

    Thu nhập không bình đẳng: Giá trị đồng tiền giảm khi lạm phát tăng khiến lãi suất tăng lên, người lao động sẽ có lợi trong việc vay trả vốn góp. Những việc này lại khiến tình trạng vơ vét hàng hóa và chờ đầu cơ làm mất cân bằng cung cầu trên thị trường. Tình trạng những người dân nghèo không có đủ hàng hóa để sử dụng trong cuộc sống hàng ngày càng phổ biến, người giàu lại càng giàu có hơn làm rối loạn nền kinh tế, tạo ra thu nhập không bình đẳng.

    Nợ quốc gia: Các quốc gia đang phát triển sẽ có những khoản nợ nước ngoài, khi lạm phát tăng cao dẫn đến tỷ giá giá tăng, đồng tiền trong nước mất giá hơn so với nước ngoài. Chính phủ được lợi từ nguồn tiền trong nước nhưng lại thiệt so với ngoại tệ làm tình trạng nợ quốc gia ngày một trầm trọng hơn.

    Lạm phát ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế và đời sống

    Tích cực

    Mặc dù lạm phát đem đến khá nhiều tiêu cực cho đời sống sinh hoạt cũng như nền kinh tế, chính trị của một quốc gia, tuy nhiên nó cũng có khá nhiều lợi ích như. Khi tốc độ lạm phát tự nhiên được duy trì ổn định từ 2 – 5% thì tốc độ phát triển kinh tế của đất nước đó khá ổn định. Cụ thể là:

    – Tỷ lệ thất nghiệp giảm, tiêu dùng tăng, vay nợ và đầu cơ an toàn hơn

    – Chính phủ có thêm nhiều lựa chọn về công cụ kích thích đầu tư vào nội tệ.

    Việc một đất nước duy trì lạm phát ở mức ổn định là rất khó, đặc biệt là với những quốc gia đang trong giai đoạn phát triển như Việt Nam.

    Mỗi quốc gia đề có phương pháp đo lường khác nhau, tuy nhiên phương pháp đo lường lạm phát được áp dụng chủ yếu dựa theo hệ số giảm phát GDP. Giảm phát GDP là sự so sánh giá trị tăng hoặc giảm giá của tất cả các loại hàng hóa hoặc dịch vụ giữa GDP hiện hành với kỳ trước.

    Nhìn chung, khi tính toán lạm phát trong một giai đoạn, giá cả mặt hàng trung bình tăng thì là lạm phát, giá chung giảm thì là giảm phát.

    Khi xuất hiện tình trạng lạm phát, Chính Phủ sẽ có phương án giảm bớt lượng tiền lưu thông trên thị trường bao gồm:

    – Ngừng phát hành tiền

    – Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc

    – Nâng lãi suất tiền gửi và lãi suất tái chiết khấu

    – Áp dụng nghiệp vụ thị trường mở bán chứng từ có giá trị cho các ngân hàng thương mại

    – Ngân hàng trung ương bán ngoại tệ cũng như vàng cho các ngân hàng thương mại.

    – Giảm chi ngân sách

    – Tăng thuế tiêu dùng.

    Chính sách tài khóa và giảm bớt lượng tiền tệ lưu thông là phương án tối ưu để giảm lạm phát

    Ngoài ra, ngân hàng trung ương và Chính Phủ sẽ đưa ra nhiều ưu đãi về tín dụng trong các lĩnh vực sản xuất để làm giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động. Bộ tài chính có thể yêu cầu tổng cục thuế giảm thuế trong việc nhập khẩu nguyên vật liệu, thuế đầu tư, thuế thu nhập doanh nghiệp… để có thể giảm bớt chi phí đầu vào. Tất cả những hoạt động trên đều kích thích năng suất lao động được hiệu quả hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lạm Phát Tốt Hay Xấu? Điều Gì Tạo Ra Lạm Phát?
  • Tử Vi Số Mệnh: Có Ngày Tốt Hay Xấu Không?
  • Chậu Rửa Bát Inox Loại Nào Tốt Giữa Sơn Hà, Đại Thành, Toàn Thắng, Tân Á?
  • Cầu Thang Kính Hay Gỗ Rẻ Hơn? Loại Nào Tốt Và Thẩm Mỹ Hơn
  • Đường Ngọt: Tốt Hay Xấu Công Hay Tội?
  • Lạm Phát Là Gì? Những Thảm Kịch Siêu Lạm Phát Tồi Tệ Nhất Lịch Sử

    --- Bài mới hơn ---

  • Chiều Hướng Giảm Của Lạm Phát Tại Trung Quốc. Tốt Hay Xấu?
  • Khi Đồng Tiền Giảm Giá Là Tốt Hay Xấu Cho Xuất Khẩu?
  • Thói Quen Tắm Trước Khi Ngủ Là Tốt Hay Xấu: Chuyên Gia Khuyên Cách Tắm Có Lợi Nhất
  • Coi Lịch Ngày 23/3/2021 Là Tốt Hay Xấu?
  • Ngày 10 Tháng 1 Năm 2022 Là Ngày Tốt Hay Xấu? Xem Ngày 10/1/2021
  • Lạm phát là gì?

    Trong nền kinh tế của một quốc gia, lạm phát là sự gia tăng liên tục mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ khiên cho đồng tiền bị mất giá trị so với thời gian trước. Điều này cũng đồng nghĩa với việc giá trị của đồng tiền sẽ bị suy giảm. Khi so sánh với các nền kinh tế của quốc gia khác, lạm phát chính là sự giảm giá trị đồng tiền của quốc gia này so với quốc gia khác.

    Hiện nay, lạm phát có 3 mức độ như sau:

    • Lạm phát tự nhiên: từ 0% đến dưới 10%;
    • Lạm phát phi mã: từ 10% đến dưới 1000%;
    • Siêu lạm phát: trên 1000%;

    Nguyên nhân gây ra lạm phát

    Trên thực tế, lạm phát được gây ra bởi rất nhiều nguyên nhân như lạm phát do cầu thay đổi, lạm phát do xuất khẩu, lạm phát do nhập khẩu, lạm phát tiền tệ… Tuy nhiên, lạm phát do chi phí đẩy và lạm phát do cầu kéo là hai nguyên nhân chính, cụ thể như sau:

    Lạm phát do cầu kéo

    Lạm phát do sự tăng lên về nhu cầu tiêu dùng của thị trường được gọi là lạm phát do cầu kéo. Ví dụ như khi giá xăng dầu tăng sẽ kéo theo sự tăng giá của rất nhiều dịch vụ khách như giá cước taxi, xe bus, giá vận chuyển hàng hóa, giá thực phẩm…

    Lạm phát do chi phí đẩy

    Chi phí đẩy của các công ty, doanh nghiệp bao gồm những yếu tố như giá nguyên liệu đầu vào, máy móc, tiền lương, thuế, chi phí bảo hiểm cho nhân viên… Khi giá cả của một trong số những yếu tố trên tăng lên thì chi phí sản xuất của doanh nghiệp sẽ tăng. Điều này sẽ dẫn đến giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận. Như vậy, mức giá chung của nền kinh tế sẽ tăng theo.

    Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế

    Lạm phát tác động đến nền kinh tế theo cả 2 chiều hướng tích cực và tiêu cực. Cụ thể như sau:

    Tác động tiêu cực

    Các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến việc chống lạm phát

    Lạm phát ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế bởi làm nên sự gia tăng chi phí cơ hội cho việc tích trữ tiền. Sự không chắc chắn về tốc độ lạm phát trong tương lai sẽ ngăn cản quyết định tiết kiệm và đầu tư. Nếu như lạm phát tăng trưởng nhanh, người tiêu dùng sẽ cảm thấy lo lắng về giá cả hàng hóa sẽ tăng cao trong thời gian tới.

    Tác động tích cực

    Lạm phát có ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế đó là trong một số trường hợp có thể làm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên sự tác động tích cực này là không nhiều. Chính vì thế mà chính phủ của các quốc gia luôn tìm cách khắc phục tình trạng lạm phát ở mức độ cho phép.

    Cách kiểm soát lạm phát

    Hiện nay, có nhiều chính sách và phương pháp được nhiều nước áp dụng để kiểm soát tình trạng lạm phát. Bao gồm:

    • Giảm thiểu số lượng tiền giấy lưu thông bằng cách tăng lãi suất tiền gửi, phát hành trái phiếu, giảm sức ép lên giá cả hàng hóa dịch vụ…;
    • Thi hành một số chính sách thắt chặt tài chính như: cắt giảm chi tiêu, tạm hoãn những khoản chưa cần thiết, cân đối lại ngân sách nhà nước;
    • Vay viện trợ từ nước ngoài;
    • Cải cách tiền tệ;
    • Tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng thông qua việc giảm thuế quan, khuyến khích tự do mậu dịch….

    Bài viết trên chúng tôi đã đưa ra thông tin về lạm phát là gì? và những vấn đề xung quanh lạm phát được nhiều người quan tâm. Hy vọng qua bài viết trên các bạn đã có thêm được những kiến thức bổ ích về lạm phát- một khái niệm khá quen thuộc của nền kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lạm Phát Là Gì? Nguyên Nhân Nào Gây Sự Lạm Phát?
  • Cách Đo Lường Và Quản Lý Lạm Phát Thế Nào?
  • Tác Động Hai Mặt Của Lạm Phát Thấp
  • Những Câu Nói Ấn Tượng Nhất Trong Lịch Sử Điện Ảnh Của Các Nhân Vật Phản Diện Nổi Tiếng
  • Huyễn Tưởng Về Người Tốt, Kẻ Xấu
  • Tác Động Hai Mặt Của Lạm Phát Thấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Đo Lường Và Quản Lý Lạm Phát Thế Nào?
  • Lạm Phát Là Gì? Nguyên Nhân Nào Gây Sự Lạm Phát?
  • Lạm Phát Là Gì? Những Thảm Kịch Siêu Lạm Phát Tồi Tệ Nhất Lịch Sử
  • Chiều Hướng Giảm Của Lạm Phát Tại Trung Quốc. Tốt Hay Xấu?
  • Khi Đồng Tiền Giảm Giá Là Tốt Hay Xấu Cho Xuất Khẩu?
  • Mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2014 chưa đến 2% so với cùng kỳ được đem ra “mổ xẻ” tại Hội thảo “Lạm phát thấp ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức”, do Học Viện Tài chính tổ chức ngày 26/12/2014. Trước nhiều ý kiến cho rằng, mức tăng nói trên là thấp, bà Ngô Thị Ánh Dương, Phó vụ trưởng Vụ Thống kê Giá (Tổng cục Thống kê) lưu ý, tăng thấp đó là so với chính Việt Nam, nhưng vẫn cao hơn Thailand, Singapore, Malaysia, Philippines, Brunei và tương đương với Campuchia.

    Cơ hội và thách thức khi lạm phát ở Việt Nam đạt mức thấp, đặc biệt là đánh giá tác động tới các vấn đề về tăng trưởng, thu/chi ngân sách, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái, nợ công, tiêu dùng và tồn kho… đã được bàn đến tại hội thảo nói trên. Nhiều chuyên gia đồng tình rằng, ổn định giá cả là thành công của 2014, sau một quá khứ có nhiều năm giá tăng cao và bất thường. Như quan điểm của chuyên gia Ngô Trí Long, việc điều hành giá năm 2014 đã đạt được “thắng lợi kép”. Lạm phát thấp có lợi cho người tiêu dùng và cải thiện sức mua, theo lý thuyết.

    Lạm phát thấp có lợi cho người tiêu dùng, cải thiện sức mua của thị trường

    Tuy nhiên, ông Long cũng lưu ý, theo ý kiến của nhiều chuyên gia, việc kiểm soát lạm phát năm nay chỉ được coi là thành công trọn vẹn nếu tăng trưởng cải thiện rõ. GDP được công bố tăng ở mức 5,93% so với năm ngoái, như vậy sự thành công chỉ mới một nửa. Bởi, lạm phát thấp không phải do hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh được nâng cao, do tăng năng suất lao động cải thiện, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh nền kinh tế…

    Bên cạnh đó, lạm phát thấp đạt được trong bối cảnh thành tựu ổn định kinh tế vĩ mô chưa vững chắc: nợ công, nợ xấu, nợ đọng (xây dựng cơ bản, thuế, nợ các DN với nhau) còn cao; DN còn nhiều khó khăn; thị trường bất động sản chưa phục hồi, thị trường chứng khoán còn bấp bênh; mô hình tăng trưởng chưa thay đổi với tái cơ cấu nền kinh tế còn chậm… “Giảm được lạm phát thấp mà thế này rõ ràng là không bền vững, không mong muốn”, ông Long nói. Thậm chí, theo TS. Nguyễn Đức Độ (Viện Kinh tế – Tài chính), lạm phát ở mức quá thấp sẽ làm suy yếu khả năng chống đỡ của DN trước các cú sốc.

    Tác động hai mặt của lạm phát thấp

    Quan ngại lạm phát thấp tiếp tục được đặt ra cho năm 2022. TS. Nguyễn Ngọc Tuyến (Viện Kinh tế – Tài chính) dự báo, CPI năm 2022 sẽ tiếp tục ở mức thấp, có thể dao động trong khoảng 2 – 3%. Mức lạm phát này sẽ kéo dài trong một số năm và nhiều khả năng sẽ là suốt giai đoạn 2022 – 2022. Lạm phát và tăng trưởng kinh tế chỉ thay đổi mạnh khi nào số nợ xấu và những rủi ro trong nền kinh tế được xử lý và kiểm soát một cách triệt để.

    Diễn biến của CPI các tháng giai đoạn 2008-2014. Nguồn: Tổng cục Thống kê

    Tuy nhiên, bà Ngô Thị Ánh Dương có lưu ý khác, ở thời điểm này, xu hướng lạm phát thấp đang được củng cố. Nhưng những tác động có lợi cho kiềm chế giá cả năm 2014 như: không có biến động thời tiết hay dịch bệnh, giá xăng dầu giảm mạnh… chưa chắc đã lặp lại vào năm 2022.

    Hành xử thế nào với lạm phát thấp cũng là vấn đề được đặt ra lúc này. Theo các chuyên gia, lạm phát rất nhạy cảm, thường không bền vững, dễ bị phá vỡ và nếu bùng phát trở lại sẽ rất khó kiểm soát. Do vậy, cần tập trung kiểm soát lạm phát ngay cả khi vẫn ở mức thấp để tránh rủi ro cho những năm tới. Bà Dương tính toán, nếu như giá điện tăng theo phương án như báo chí nêu thì xét trong bảng cân đối liên ngành, khi giá bán điện năm 2022 tăng lên 9,5% sẽ làm tăng giá thành sản xuất lên khoảng 0,55%, làm giảm tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình là 0,58% và làm giảm tốc độ tăng GDP là 0,45%.

    Tri Nhân

    Dự báo con số lạm phát năm tới ở mức 4%, TS. Ngô Trí Long cho rằng, tác động của yếu tố cầu kéo lên lạm phát là không đáng kể (tổng cầu thấp) và các yếu tố chi phí đẩy dự kiến cũng không tác động đáng kể lên lạm phát, do giá cả hàng hóa thế giới dự báo ổn định trong năm 2022; xuất khẩu tiếp tục tăng; cán cân thanh toán thặng dư; tỷ giá ổn định. Đây là tiền đề quan trọng để tăng cường các biện pháp hỗ trợ DN, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

    Nhưng ông Long cũng cảnh báo: “Chú trọng quá đến mục tiêu kiểm soát lạm phát dẫn đến việc tăng trưởng kinh tế dưới tiềm năng, trong tương lai có thể gây mất cân đối cung – cầu hàng hóa và tạo ra lạm phát do thiếu cung”. Lạm phát thấp kéo theo sức mua ỳ ạch, hoạt động kinh tế cũng ngưng trệ theo, người tiêu dùng tạm hoãn chi tiêu để chờ giá giảm sâu hơn. Giới DN ngừng đầu tư và tuyển dụng để tiết kiệm chi phí. Lạm phát quá thấp “gặm nhấm” doanh số và nguồn thu thuế, cản trở việc tăng lương, ăn mòn lãi suất cận biên. Chúng cũng đè gánh nặng nợ nần lên các công ty và Chính phủ. Quỹ Tiền tệ Quốc tế cũng cảnh báo rằng kể cả một giai đoạn lạm phát ổn định nhưng thấp cũng có thể gây tác hại.

    Đồng quan điểm, TS. Nguyễn Ngọc Tuyến chia sẻ, lạm phát thấp tạo ra nhiều thách thức đối với kinh tế Việt Nam, với thu ngân sách sẽ khó khăn hơn, Chính phủ tiếp tục thiếu tiền cho đầu tư, trả nợ và thực hiện các nhiệm vụ cải cách, phát triển kinh tế – xã hội. Giá cả thấp sẽ không khuyến khích đối với đầu tư nhìn từ phương diện hoàn vốn và thu lãi cao, thất nghiệp sẽ tăng lên, tăng trưởng kinh tế vì vậy khó đạt được mức độ cao, mức độ tụt hậu so với các nước vì vậy ngày càng xa.

    Ông nói: “Lạm phát thấp nếu kéo dài cộng thêm với thâm hụt ngân sách liên tiếp diễn ra như thực trạng hiện nay thì rất dễ dẫn tới suy thoái kinh tế, hoặc hiện tượng lạm phát cao sẽ quay trở lại, phá vỡ sự ổn định của các cân đối vĩ mô và kinh tế sẽ bị rối loạn”.

    Nguồn: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Câu Nói Ấn Tượng Nhất Trong Lịch Sử Điện Ảnh Của Các Nhân Vật Phản Diện Nổi Tiếng
  • Huyễn Tưởng Về Người Tốt, Kẻ Xấu
  • Đàn Ông Có Lông Bụng Nhiều Là Người Như Thế Nào?
  • Giải Mã Điềm Báo Giấc Mơ Thấy Mình Khóc
  • Hôm Nay Ngày Mấy Âm? Là Ngày Tốt Hay Ngày Xấu?
  • Cách Đo Lường Và Quản Lý Lạm Phát Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Lạm Phát Là Gì? Nguyên Nhân Nào Gây Sự Lạm Phát?
  • Lạm Phát Là Gì? Những Thảm Kịch Siêu Lạm Phát Tồi Tệ Nhất Lịch Sử
  • Chiều Hướng Giảm Của Lạm Phát Tại Trung Quốc. Tốt Hay Xấu?
  • Khi Đồng Tiền Giảm Giá Là Tốt Hay Xấu Cho Xuất Khẩu?
  • Thói Quen Tắm Trước Khi Ngủ Là Tốt Hay Xấu: Chuyên Gia Khuyên Cách Tắm Có Lợi Nhất
  • “Tại sao Lạm phát lại là như một kẻ phá hoại”

    Lạm phát làm giảm sức mua của từng đơn vị tiền tệ, làm tăng giá hàng hóa và dịch vụ theo thời gian. Đó là một thuật ngữ kinh tế có nghĩa là bạn phải chi nhiều hơn để đổ đầy bình xăng, mua một lít sữa hoặc cắt tóc. Nói cách khác, nó làm tăng chi phí sinh hoạt của bạn.

    Lạm phát của Hoa Kỳ đã làm giảm giá trị của đồng đô la. So sánh giá trị của đồng đô la ngày hôm nay với giá trị của đồng đô la trong quá khứ. Vì vậy, khi giá tăng, tiền của bạn mua ít hơn. Vì lý do đó, nó có thể làm giảm mức sống của bạn theo thời gian.

    Đó là lý do tại sao Tổng thống Ronald Reagan đã nói, “Lạm phát như một kẻ phá hoại, đáng sợ như một tên cướp có vũ trang, và chết người như một kẻ bị đánh.”

    Bài học rút ra từ lạm phát chính là

    • Lạm phát tồn tại khi giá cả tăng nhưng sức mua giảm trong một thời kỳ nhất định.
    • Cầu, cung và kỳ vọng về hàng hóa ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát.
    • Cục Dự trữ Liên bang sử dụng chính sách tiền tệ để quản lý lạm phát.
    • Bạn có thể bảo vệ mình khỏi lạm phát thông qua các khoản đầu tư khôn ngoan.

    Tỷ lệ lạm phát

    Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm tăng hoặc giảm giá trong một thời kỳ xác định, thường là một tháng hoặc một năm. Tỷ lệ phần trăm cho bạn biết giá đã tăng nhanh như thế nào trong thời gian này. Ví dụ, nếu tỷ lệ lạm phát đối với một gallon khí đốt là 2% mỗi năm, thì giá khí đốt sẽ cao hơn 2% trong năm tới

    Điều đó có nghĩa là một gallon khí đốt có giá 2,00 đô la năm nay sẽ có giá 2,04 đô la vào năm sau.

    Nếu tỷ lệ lạm phát cao hơn 50% trong một tháng, đó là siêu lạm phát. Nếu lạm phát xảy ra cùng lúc với suy thoái, đó là lạm phát đình trệ.3 Giá cả tài sản như nhà ở, vàng hoặc cổ phiếu tăng được gọi là lạm phát tài sản.

    Tỷ lệ lạm phát là một thành phần quan trọng của chỉ số khốn khó, là một chỉ số kinh tế giúp xác định sức khỏe tài chính trung bình của một công dân. Thành phần khác là tỷ lệ thất nghiệp. Khi chỉ số khốn khó cao hơn 10%, điều đó có nghĩa là mọi người đang phải chịu suy thoái, lạm phát phi mã hoặc cả hai.5 6 Nói cách khác, lạm phát hoặc thất nghiệp lớn hơn 10%.

    Nguyên nhân dẫn đến lạm phát

    Có hai nguyên nhân gây ra lạm phát. Phổ biến nhất là lạm phát do cầu kéo. Đó là khi cầu vượt cung đối với hàng hóa hoặc dịch vụ. Người mua muốn sản phẩm đến mức họ sẵn sàng trả giá cao hơn.

    Lạm phát do chi phí đẩy là nguyên nhân thứ hai, ít phổ biến hơn. Đó là khi nguồn cung bị hạn chế nhưng nhu cầu thì không. Điều đó xảy ra sau khi cơn bão Katrina làm hỏng các đường cung cấp khí đốt. Nhu cầu về xăng không thay đổi, nhưng hạn chế về nguồn cung đã làm tăng giá lên 5 đô la một gallon.8

    Một số nguồn tin nói rằng sự gia tăng cung tiền cũng gây ra lạm phát. 9 Đó là cách hiểu sai về lý thuyết trọng tiền. Nó nói rằng nguyên nhân chính của lạm phát là do chính phủ in ra quá nhiều tiền. Kết quả là, vốn quá nhiều lại kéo theo quá ít hàng hóa. Nó tạo ra lạm phát bằng cách kích hoạt lạm phát do cầu kéo hoặc do chi phí đẩy.

    Một số người cũng coi lạm phát tích hợp là nguyên nhân thứ ba. 10 Yếu tố này dẫn đến kỳ vọng của mọi người về lạm phát trong tương lai. Khi giá cả tăng, lao động mong đợi mức tăng lương để theo kịp. Nhưng tiền lương cao hơn làm tăng chi phí sản xuất, làm tăng giá hàng hóa và dịch vụ một lần nữa. Khi nguyên nhân và kết quả này tiếp tục, nó sẽ trở thành vòng xoáy tiền lương – giá cả.

    Lạm phát và chỉ số CPI

    Tỷ lệ lạm phát Hoa Kỳ (2006 – 2022)

    Một số nguồn nói sai có sự khác biệt giữa lạm phát và CPI. Nhưng không có sự khác biệt. 13

    Chỉ số CPI là một công cụ đo lường lạm phát. Nó không phải là một dạng lạm phát khác.

    Chỉ số giá Chi tiêu cho Tiêu dùng Cá nhân cũng đo lường lạm phát.14 Nó bao gồm nhiều hàng hóa và dịch vụ kinh doanh hơn chỉ số CPI. Ví dụ, nó bao gồm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe do bảo hiểm y tế chi trả. CPI chỉ bao gồm các hóa đơn y tế do người tiêu dùng trực tiếp thanh toán.

    Cách các ngân hàng trung ương quản lý lạm phát

    Các ngân hàng trung ương trên khắp thế giới sử dụng chính sách tiền tệ để tránh lạm phát và ngược lại, giảm phát. Tại Hoa Kỳ, Cục Dự trữ Liên bang đặt mục tiêu tỷ lệ lạm phát mục tiêu là 2% so với cùng kỳ năm ngoái.15

    Vào ngày 27 tháng 8 năm 2022, FOMC thông báo họ sẽ cho phép tỷ lệ lạm phát mục tiêu hơn 2% nếu điều đó sẽ giúp đảm bảo việc làm tối đa. Nó vẫn tìm kiếm mức lạm phát 2% theo thời gian nhưng sẵn sàng cho phép tỷ lệ cao hơn nếu lạm phát đã ở mức thấp trong một thời gian.

    Fed sử dụng tỷ lệ lạm phát cốt lõi để loại bỏ giá năng lượng và thực phẩm. Những mức giá này do các nhà kinh doanh hàng hóa đặt ra và quá dễ biến động để xem xét.

    Cách bảo vệ bản thân khỏi lạm phát

    Một cách để bảo vệ khoản tiết kiệm của bạn là đầu tư vào thị trường chứng khoán. Nó đã hoàn lại khoảng 10% các khoản đầu tư theo thời gian.16

    Liệu nó có làm như vậy trong tương lai hay không vẫn chưa được biết và có rủi ro.

    Chú ý: Như mọi khi, hãy tham khảo ý kiếncủa người lập kế hoạch tài chính của bạn trước khi đưa ra bất kỳ quyết định tài chính nào để đảm bảo điều này phù hợp với mục tiêu của bạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tác Động Hai Mặt Của Lạm Phát Thấp
  • Những Câu Nói Ấn Tượng Nhất Trong Lịch Sử Điện Ảnh Của Các Nhân Vật Phản Diện Nổi Tiếng
  • Huyễn Tưởng Về Người Tốt, Kẻ Xấu
  • Đàn Ông Có Lông Bụng Nhiều Là Người Như Thế Nào?
  • Giải Mã Điềm Báo Giấc Mơ Thấy Mình Khóc
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100