Xem Nhiều 1/2023 #️ Tại Sao Giảm Phát Lại Tồi Tệ? # Top 4 Trend | Namtranpharma.com

Xem Nhiều 1/2023 # Tại Sao Giảm Phát Lại Tồi Tệ? # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tại Sao Giảm Phát Lại Tồi Tệ? mới nhất trên website Namtranpharma.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Giá cả ở khu vực đồng euro đang hạ xuống. Số liệu công bố ngày 7/1 cho thấy giá tiêu dùng trong năm 2014 tính đến tháng 10 đã tụt 0,2%, đánh dấu sự quay trở lại của giảm phát lần đầu tiên kể từ năm 2009. Mức cầu yếu do chính sách thắt lưng buộc bụng, nợ và sự thiếu hụt tăng trưởng đang kéo mức giá cả xuống. Giá dầu giảm cũng khiến hàng hóa rẻ hơn. Người ta có thể nghĩ rằng giá cả giảm là một điều đáng để ăn mừng, nhưng những lo ngại về bẫy giảm phát và vòng xoáy suy thoái vẫn đang tồn tại khắp nơi. Ngân hàng Trung ương Châu Âu có thể sẽ khởi động chương trình nới lỏng định lượng trong tháng này để ngăn chặn nguy cơ ấy. Vậy tại sao các nhà kinh tế học lại rất sợ việc giá cả giảm?

Một cách giải thích thông thường cho câu hỏi này là với việc dự đoán trước được giá cả giảm, người tiêu dùng trì hoãn mua sắm khiến giá cả lại giảm thêm. Lập luận này là một sự đơn giản hóa; ta có thể đưa ra một lập luận ngược lại có sức nặng tương đương rằng lạm phát tất yếu sẽ tăng bởi người tiêu dùng sẽ mua sắm trước (lúc giá còn rẻ) để tránh việc phải trả giá quá cao về sau.

Tỉ lệ lạm phát thấp hoặc giảm phát kìm nén biến số tối quan trọng này. Lãi suất danh nghĩa không thể xuống dưới mức 0 bởi điều này có nghĩa là số dư tiền gửi ngân hàng của người dân bị giảm mỗi tháng, và khiến họ rút tiền gửi khỏi ngân hàng và cất trữ tiền mặt dưới gầm giường. Cùng với lạm phát, điều này cũng đặt ra một mức sàn đối với lãi suất thực tế. Nếu lạm phát ở mức thấp và lãi suất thực tế không giảm đến mức đủ để kích cầu và khiến giá cả tăng lên, cầu sẽ càng trở nên yếu hơn. Đây chính là bẫy giảm phát khiến người ta sợ hãi.

Bên cạnh đó cũng còn một số vấn đề khác. Tỉ lệ lạm phát thấp hơn dự kiến khiến gánh nặng nợ thực tế tăng lên. Những người cho vay hưởng lợi từ điều này, nhưng bởi vì họ có xu hướng tiết kiệm hơn là người vay nợ, nhìn chung mức cầu vẫn bị yếu đi. Giảm phát còn khiến thị trường lao động trở nên cứng nhắc hơn. Người lao động có thể chống lại việc cắt giảm lương tính bằng tiền mặt, nhưng lạm phát cho phép các công ty cắt giảm tiền lương thực tế bằng cách giữ nguyên tiền lương danh nghĩa. Ngược lại, giảm phát khiến vấn đề này trở nên trầm trọng hơn.

Để tránh bẫy giảm phát, các ngân hàng trung ương có thể viện đến những chính sách phi chính thống (unconventional) như nới lỏng định lượng, mặc dù người ta vẫn còn tranh luận về tính công bằng và tính hiệu quả của chúng. Trong dài hạn, một vài nhà kinh tế học cho rằng các mục tiêu lạm phát nên được đặt cao hơn. Điều này sẽ tạo thêm khoảng trống cho lãi suất thực hạ xuống khi các nền kinh tế chịu những cú sốc tiêu cực. Nhưng trong một vài thập niên tới, vấn đề này có thể sẽ biến mất: trong một nền kinh tế không tiền mặt, người ta không thể cất trữ tiền dưới gầm giường. Điều này sẽ cho phép lãi suất danh nghĩa hạ xuống mức âm, đơn giản bởi số dư tiền gửi ngân hàng của tất cả mọi người có thể bị giảm cùng lúc. Dù vậy điều này nói thì dễ hơn là làm.

Lạm Phát Là Gì? Những Thảm Kịch Siêu Lạm Phát Tồi Tệ Nhất Lịch Sử

Lạm phát là gì?

Trong nền kinh tế của một quốc gia, lạm phát là sự gia tăng liên tục mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ khiên cho đồng tiền bị mất giá trị so với thời gian trước. Điều này cũng đồng nghĩa với việc giá trị của đồng tiền sẽ bị suy giảm. Khi so sánh với các nền kinh tế của quốc gia khác, lạm phát chính là sự giảm giá trị đồng tiền của quốc gia này so với quốc gia khác.

Hiện nay, lạm phát có 3 mức độ như sau:

Lạm phát tự nhiên: từ 0% đến dưới 10%;

Lạm phát phi mã: từ 10% đến dưới 1000%;

Siêu lạm phát: trên 1000%;

Nguyên nhân gây ra lạm phát

Trên thực tế, lạm phát được gây ra bởi rất nhiều nguyên nhân như lạm phát do cầu thay đổi, lạm phát do xuất khẩu, lạm phát do nhập khẩu, lạm phát tiền tệ… Tuy nhiên, lạm phát do chi phí đẩy và lạm phát do cầu kéo là hai nguyên nhân chính, cụ thể như sau:

Lạm phát do cầu kéo

Lạm phát do sự tăng lên về nhu cầu tiêu dùng của thị trường được gọi là lạm phát do cầu kéo. Ví dụ như khi giá xăng dầu tăng sẽ kéo theo sự tăng giá của rất nhiều dịch vụ khách như giá cước taxi, xe bus, giá vận chuyển hàng hóa, giá thực phẩm…

Lạm phát do chi phí đẩy

Chi phí đẩy của các công ty, doanh nghiệp bao gồm những yếu tố như giá nguyên liệu đầu vào, máy móc, tiền lương, thuế, chi phí bảo hiểm cho nhân viên… Khi giá cả của một trong số những yếu tố trên tăng lên thì chi phí sản xuất của doanh nghiệp sẽ tăng. Điều này sẽ dẫn đến giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận. Như vậy, mức giá chung của nền kinh tế sẽ tăng theo.

Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế

Lạm phát tác động đến nền kinh tế theo cả 2 chiều hướng tích cực và tiêu cực. Cụ thể như sau:

Tác động tiêu cực

Các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến việc chống lạm phát

Lạm phát ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế bởi làm nên sự gia tăng chi phí cơ hội cho việc tích trữ tiền. Sự không chắc chắn về tốc độ lạm phát trong tương lai sẽ ngăn cản quyết định tiết kiệm và đầu tư. Nếu như lạm phát tăng trưởng nhanh, người tiêu dùng sẽ cảm thấy lo lắng về giá cả hàng hóa sẽ tăng cao trong thời gian tới.

Tác động tích cực

Lạm phát có ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế đó là trong một số trường hợp có thể làm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên sự tác động tích cực này là không nhiều. Chính vì thế mà chính phủ của các quốc gia luôn tìm cách khắc phục tình trạng lạm phát ở mức độ cho phép.

Cách kiểm soát lạm phát

Hiện nay, có nhiều chính sách và phương pháp được nhiều nước áp dụng để kiểm soát tình trạng lạm phát. Bao gồm:

Giảm thiểu số lượng tiền giấy lưu thông bằng cách tăng lãi suất tiền gửi, phát hành trái phiếu, giảm sức ép lên giá cả hàng hóa dịch vụ…;

Thi hành một số chính sách thắt chặt tài chính như: cắt giảm chi tiêu, tạm hoãn những khoản chưa cần thiết, cân đối lại ngân sách nhà nước;

Vay viện trợ từ nước ngoài;

Cải cách tiền tệ;

Tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng thông qua việc giảm thuế quan, khuyến khích tự do mậu dịch….

Bài viết trên chúng tôi đã đưa ra thông tin về lạm phát là gì? và những vấn đề xung quanh lạm phát được nhiều người quan tâm. Hy vọng qua bài viết trên các bạn đã có thêm được những kiến thức bổ ích về lạm phát- một khái niệm khá quen thuộc của nền kinh tế.

Giảm Phát: Tốt Hay Xấu

Giảm phát: tốt hay xấu

Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

Bài 35:

Giảm phát: tốt hay xấu

Đến tháng 8/2003, chỉ số CPI của Việt Nam đã giảm liên tục trong 4 tháng. Mọi người đều nói “giảm phát”. Thực ra khái niệm giảm phát đã xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam từ năm 2000. Về trực giác, người tiêu dùng thích giảm phát nhưng người sản xuất lại chẳng ưa gì. Thực chất thì giảm phát là tốt hay xấu ?

Giảm phát tốt xảy ra khi môi trường kinh doanh cởi mở hơn, các mức giá bị các nhà độc quyền đẩy lên cao nay phải giảm dưới áp lực cạnh tranh. Một tình huống tốt khác là trong thị trường tự do, những người sản xuất với năng suất cao hơn sẽ vươn lên, giá thành sản phẩm sẽ giảm xuống, giá hàng giảm làm người tiêu dùng mua nhiều hơn, và kết quả là giá thành mỗi đơn vị sản phẩm càng giảm.

Giảm phát không tốt xảy ra khi giá giảm nhưng số hàng bán không tăng. Các công ty phải giảm quy mô sản xuất và thải bớt nhân công. Trước nguy cơ mất việc, mọi người sẽ tiết kiệm nhiều hơn và chi tiêu ít hơn. Kết quả là giảm phát trở nên trầm trọng.

Dạng giảm phát tồi tệ hơn khi các doanh nghiệp kém hiệu quả được trợ giá để tiếp tục hoạt động. Để cạnh tranh với các doanh nghiệp này, các công ty khỏe mạnh phải hạ giá bán và chẳng mấy chốc cũng trở nên ốm yếu.

Giảm phát là tồi tệ nhất khi quá nhiều vốn và vốn vay ào ạt đổ vào một cách lạc quan, làm cho cung vượt xa cầu. Hàng không bán được nhưng nợ vẫn phải trả, cả các công ty tốt cũng có nguy cơ phá sản.

Việt Nam ở đâu trong những tình huống tốt và xấu nêu trên? Chỉ số CPI của ta dựa nhiều vào giá lương thực và nông sản. Những năm gần đây, giá nông sản trên thế giới giảm do dư cung, ví dụ như gạo, cà phê, tiêu v.v… Nông dân ở Indonesia, Braxin và Việt Nam chẳng thể làm gì ngoài việc chờ xem ai sẽ phải chặt bỏ cà phê trước. Họ không trách nhau, nhưng chê các chính phủ đã chẳng giúp họ những thông tin và dự báo chính xác

English:

Deflation: good or bad

Until August 2003, the CPI of Vietnam has been decreased for four consecutive months. Everyone says “deflation”. In fact, the concept of deflation appeared in Vietnam for the first time in 2000. Intuitionally, consumers love deflation but producers hate it. Overall, is it good or bad?

Good deflation happens when the business environment becomes more open, high prices set by monopolists are reduced under competition. Another good scenario occurs due to free market. In that environment, producers with better productivity will thrive, cost of production becomes lower, price is down, consumers purchase more, and in turn, the unit cost of production goes further down.

Bad deflation happens when prices are down but unit sales are not up. Firms have to reduce the production scale and lay off workers. Facing higher job uncertainty, consumers will save more and spend less. Then deflation can become severer.

The worse deflation may occur when inefficient firms are subsidized to stay in business. In order to compete with these firms, healthy ones will have to lower their prices and will soon get sick, too.

The worst deflation occurs when too much loans and capital optimistically rush in, causing supply move far ahead of demand. Products cannot be sold but loans are still due and bankruptcy may occur, even to the good firms.

So where is Vietnam deflation among the above good and bad scenarios? Our CPI is based heavily on foods and agriculture products. In recent years, the world prices of agriculture products were down because of excess supply, such as the supply of rice, coffee, pepper, etc. Farmers in Indonesia, Brazil, and Vietnam could do nothing but wait for each other to chop down coffee trees. Instead of denouncing each other, they criticize government for failing to support them with proper information and forecasting.

(Đường dẫn tới các bài trước được đăng trong mục Tin bài khác bên dưới)

Tại Sao Chúng Ta Lại Mơ Ngủ?

Giấc mơ là những trải nghiệm, ảo tưởng trong trí óc khi ngủ. Hiện tượng mơ xảy ra ở hầu hết tất cả mọi người nhưng không phải ai cũng biết nguyên nhân và cách kiểm soát giấc mơ của mình.

Mặc dù biết được giấc mơ là gì, nhưng các nhà khoa học vẫn không chắc chắn tại sao chúng ta mơ. Theo giáo sư Jason Ellis, chuyên gia về khoa học giấc ngủ tại Đại học Northumbria, giấc mơ là những mô hình thông tin cảm giác diễn ra khi não nghỉ ngơi. Chúng thường chỉ diễn ra khi một người đang trong trạng thái giấc ngủ chuyển động mắt nhanh (REM), đó là khi não hoạt động nhưng cơ thể lại rơi vào tình trạng tê liệt. Và các nhà khoa học vẫn chưa thể lý giải được tại sao chúng ta mơ.

Có một học thuyết cho rằng giấc mơ là để bộ não của chúng ta xử lý thông tin và giúp học cách xử lý các tình huống khó khăn – đây là “thuyết tiến hóa”.

Một học thuyết khác, được gọi là “thuyết củng cố trí nhớ”, cho rằng mục đích của những giấc mơ là để giúp một người xử lý những gì họ đã học trong suốt cả ngày.

Cùng hiểu hơn lý do nào khiến chúng ta có giấc mơ đẹp, nhưng đôi khi lại gặp ác mộng kinh hoàng…

1. Lấp đầy mong ước

Vào đầu thế kỷ XX, nhà tâm lý học Sigmund Freud đã có nghiên cứu hành vi mơ của hàng trăm người, qua đó, ông đã đưa ra lý thuyết về việc hiện thực hóa mong muốn chưa đạt được của mỗi người trong giấc mơ. Lý thuyết này đã gây tiếng vang lớn và được coi là một trong những thành quả đầu tiên về nghiên cứu giấc mơ.

Theo đó, giấc mơ không có gì đáng sợ, nó đơn giản chỉ là để hoàn thành những gì bạn mong muốn khi còn thức mà thôi: được đến những nơi chưa bao giờ đến hay nắm tay vui đùa với “người trong mộng” của mình.

Trong giấc mơ, đầu óc của con người không còn bị giới hạn bởi bất kỳ rào cản nào nữa và có thể vượt qua được những giới hạn mà ban ngày chúng ta không thể bước qua nổi.

Lý thuyết này cũng giải thích nguyên nhân của những cơn ác mộng. Đó là giúp giải quyết hoặc xóa khỏi đầu hình ảnh bạn không mong muốn. Sigmund Freud nói rằng, nếu bạn mơ thấy một người thân trong gia đình bị mất, mặc dù đấy không phải là những gì bạn muốn nhưng cũng là một cách để “lấp đầy mong ước” của mình.

Hay như bạn đang có mâu thuẫn nào với người thân, việc xóa bỏ hình ảnh của người đó trong giấc mơ sẽ khiến mọi thứ trở nên dễ dàng hơn với bạn. Bằng cách này, Freud đã giúp rất nhiều bệnh nhân của mình phát hiện và khơi dậy những cảm xúc “ẩn” mà họ chưa thể giải quyết chúng.

2. Quên và nhớ

Khi tìm hiểu về nguyên nhân của những giấc mơ, các nhà khoa học đã đưa ra 2 lý thuyết khá trái ngược nhau. Nhưng thật bất ngờ, khi kết hợp lại, chúng giúp tạo ra một lý thuyết mới khá đầy đủ và bao quát: đó là “quên” và “nhớ”.

Lý thuyết “quên” cho rằng, việc chúng ta mơ mỗi đêm là để giúp bộ não thoát khỏi các kết nối không mong muốn đã hình thành trong suốt thời gian chúng ta thức.

Nói một cách đơn giản, giấc mơ giống như một cây chổi, nó sẽ giúp “quét dọn” những thứ vô ích và khiến bộ não có thêm khoảng trống để tiếp tục lưu giữ thông tin. Cơ sở của lý thuyết này chính là việc chúng ta thường không thể nhớ rõ những gì chúng ta đã mơ.

Ngược lại, thuyết “nhớ” nêu ra, giấc mơ sẽ giúp củng cố trí nhớ và những gì ta đã trải qu a. Điều này dựa trên một vài nghiên cứu chỉ ra rằng, nếu trong giấc mơ của chúng ta xuất hiện những gì đã học, hoặc đọc được chúng ta sẽ nhớ lâu hơn bình thường.

3. Cơ chế “giả chết”

Theo các nhà khoa học, giấc mơ là s ự tiến hóa của cơ chế “giả chết” ở động vật. Khi gặp nguy hiểm, các loài động vật thường có nhiều cách để tự vệ như xù lông, bỏ chạy, quay lại chiến đấu… và giả chết khiến đối phương không chú ý nữa. Trong giai đoạn này, bộ não hoàn toàn tỉnh táo và hoạt động bình thường cùng với đó là sự tiết ra của chất dopamine – có tác dụng dẫn truyền thần kinh.

Trong khi mơ, con người chúng ta cũng tiết ra chất như vậy. Dưới tác động của chất dopamine, giấc mơ lấp đầy tâm trí chúng ta bằng vô số các kích thích cùng cảm xúc.

Về sau, nhà tâm lý học người Phần Lan – Antti Revonsuo đã “nâng cấp”, bổ sung cho lý thuyết trên. Theo đó, giấc mơ của con người thậm chí còn là sự tiến hóa của cơ chế “giả chết”. Ông cho rằng, giấc mơ là sự mô phỏng lại các mối đe dọa, giúp con người học cách “đối phó” mối nguy đó một cách an toàn mà không bị bất kỳ tổn thương về thể xác nào. Nhờ đó, con người sẽ phản ứng tốt và nhanh hơn nếu họ vô tình mơ đến các mối đe dọa vào ban đêm.

4. Tái cấu trúc những quá khứ đau buồn

Chuyên gia nghiên cứu rối loạn giấc ngủ Ernest Hartmann khi nói về lý thuyết đương đại của những giấc mơ cho rằng: bất kỳ một trải nghiệm nào trong giấc mơ cũng gắn liền với cảm xúc.

Nếu gặp phải điều gì đó quá đau buồn và ta không muốn nhớ đến, bộ não sẽ “tái cấu trúc” lại bằng cách áp đặt một trải nghiệm mới thay thế cho trải nghiệm cũ ta trải qua.

Ví dụ như một người đang gặp bế tắc trong công việc thì trong giấc mơ, anh ta sẽ mơ thấy mình đang đi trong một mê cung không có đường ra. Tuy đều mang đến cảm xúc bế tắc nhưng điều này sẽ giúp người đó giảm bớt áp lực với vấn đề của mình.

Càng nhiều vấn đề và cảm xúc, giấc mơ càng nhiều, phức tạp hơn. Như vậy, giấc mơ chỉ đơn thuần là một kết nối được tạo nên để liên kết và tái cấu trúc những cảm xúc của mình. Có thể đây là một sự tiến hóa của tổ tiên chúng ta nhằm đối phó với những chấn thương về mặt tinh thần mà họ không tài nào giải quyết được.

Dù rằng giấc mơ đôi khi rất kỳ lạ nhưng nó cũng có một vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới suy nghĩ của chúng ta. Tuy nhiên, vẫn có một điều mà chưa ai giải thích được hoàn toàn, giấc mơ là một sự tiến hóa, hay đơn thuần chỉ là một sự ngẫu nhiên mà thôi.

Bạn đang xem bài viết Tại Sao Giảm Phát Lại Tồi Tệ? trên website Namtranpharma.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!