Xem Nhiều 1/2023 #️ Suy Nghĩ Của Giới Trẻ Trong Nước Về Việt Nam Cộng Hòa # Top 3 Trend | Namtranpharma.com

Xem Nhiều 1/2023 # Suy Nghĩ Của Giới Trẻ Trong Nước Về Việt Nam Cộng Hòa # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Suy Nghĩ Của Giới Trẻ Trong Nước Về Việt Nam Cộng Hòa mới nhất trên website Namtranpharma.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt tròn 40 năm. Cho đến nay những ký ức và hậu quả của cuộc chiến đó vẫn chưa phai nhòa. Giới trẻ trong nước và hải ngoại có cái nhìn thế nào về câu chuyện lịch sử đau thương này và Và trong kỳ này, mời quý vị cùng đến với những suy nghĩ của giới trẻ trong nước về Việt Nam Cộng Hòa. Cùng với ba bạn khách mời Phương Dung, Lê Đông và Minh Phúc. suy nghĩ của họ về sự hòa hợp, hòa giải, đoàn kết dân tộc trong hiện tại và tương lai ? Đó chính là những điều mà tạp chí diễn đàn bạn trẻ mong muốn được truyền tải đến các bạn cho đến hết ngày 30/4/ 2015.

Chân Như: Khi còn đi học, các bạn được dạy những gì về Việt Nam Cộng hòa ? Cho đến nay, các bạn có suy nghĩ gì về những thứ được dạy đó ?

Phương Dung: Khi còn đi học thì ở trường họ dạy em chế độ VNCH là bán nước theo Mỹ Ngụy. Họ bảo chế độ ông Ngô Đình Diệm là dã man man rợ là lê máy chém đi khắp miền Nam, chém giết rất nhiều người Việt. Cho đến khi em lên mạng đọc thông tin biết được sự thật thì cảm thấy thất vọng và không hiểu tại sao họ lại có thể lừa dối lịch sử như vậy. Sau quá trình tìm hiểu thì em thấy chế độ VNCH không như những gì mà em đã từng học trong sách vở, có nhiều điều em không được học trong sách em thấy hơi bị thất vọng.

Minh Phúc: Hồi xưa em rất thích học môn lịch sử vì bản thân mình là người yêu nước nên rất yêu những gì đất nước đã từng làm được. Theo những gì em nhớ trong đầu, hồi xưa, phần lịch sử họ dạy tất cả những ngày lễ trong năm như 30-4 hay 2-9…. Họ cho học sinh nghe lại vấn đề như: chính quyền miền Nam ngày xưa là chính quyền Mỹ ngụy, làm tay sai bán nước cho Mỹ, là chính quyền bù nhìn. Sau khi tìm hiểu từ internet và những người xung quanh cũng như bạn bè thì em biết VNCH thực sự là một đất nước chủ thể; Một đất nước còn dân chủ hơn cả ngoài Bắc Việt Nam nữa.

Họ cho học sinh nghe lại vấn đề như: chính quyền miền Nam ngày xưa là chính quyền Mỹ ngụy, làm tay sai bán nước cho Mỹ…Sau khi tìm hiểu từ internet và những người xung quanh cũng như bạn bè thì em biết VNCH thực sự là một đất nước chủ thể; Một đất nước còn dân chủ hơn cả ngoài Bắc VN

Minh Phúc

Lê Đông: Cho đến ngày hôm nay, dù em sinh sau 1975 hoàn toàn không biết gì về VNCH nhưng em đủ lớn để nhận thức được những gì xảy ra với xã hội VN mình đang sống dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Đặc biệt với hệ thống giáo dục, truyền thông và báo chí khiến em suy nghĩ và cảm thấy thật kinh khủng khi đảng CSVN đã vận dụng triệt để lối tuyên truyền là tất cả người dân Việt Nam hãy yêu, hãy sống cống hiến cho đảng, cho lý tưởng Hồ Chí Minh từ mọi cấp bậc kể cả mẫu giáo. Và song song với nó là những gì đi ngược lại với những tuyên truyền đó là phản động là kẻ thù. Có thể nói mọi sách báo truyền thông hay những kiến thức mà em được nghe, đọc, và học thì chế độ VNCH là một chế độ tay sai của Mỹ, là chế độ phản động của mọi thời đại, là chế độ của những con người tàn bạo độc ác như giết dân, ăn thịt dân, giống như những con quỷ khát máu. Và dân tộc Việt Nam nhờ chính nghĩa là ĐCSVN với ánh sáng HCM soi rọi đã tiêu diệt những con quỷ VNCH để bắt thế hệ sau phải nhớ công lao to lớn mà ra sức phục vụ cho chế độ ĐCSVN này. Chính vì cái lối tuyên truyền giáo dục đó đã hằn sâu vào rất nhiều thế hệ về sự độc ác của chế độ VNCH. Có những sự kiện không đúng và không thật.

Chân Như: Cho đến nay, quan điểm, suy nghĩ của bạn về Việt Nam Cộng hòa có thay đổi gì hay không ? Nếu có thay đổi, thì do đâu ?

Minh Phúc: Ngày xưa ở trường hoặc trên TV hoặc trên báo người ta cũng miệt thị về VNCH. Em nghe vậy thôi cũng không phản ứng nhiều. Khi em học cấp 1, cấp 2 mỗi năm được trường dẫn đi thăm những viện bảo tàng chiến tranh rồi bảo tàng HCM cũng đều nêu những tội ác của Mỹ ngụy hồi xưa. Nói chung mình cảm thấy hơi kỳ kỳ tại vì sao chỉ đưa có 1 bên mình- phải nghe hết 2 bên. Hồi xưa suy luận của em là vậy. Cũng nhờ tìm hiểu trên internet cái suy nghĩ nó thay đổi hơn. Nói chung em không miệt thị bên CS nhưng thật sự khi biết được sự thật mình cảm thấy bị shock tại vì bất cứ ai cũng vậy đều ghét cái sự dối trá, mình rất là tức, nhiều lúc xem lại tin tức ngày xưa mình hơi bị tức cực đỉnh luôn.

Phương Dung: Lúc nhỏ khi em đọc những thông tin về VNCH về chế độ ngày xưa, khi nghe tuyên truyền như vậy thật sự lúc đó còn nhỏ chưa hiểu biết được nhiều, khi nghe như thế cũng hơi bức xúc- Tại sao người Việt với người việt mà chế độ VNCH họ lại ác như vậy, họ lại hành xử với nhau như vậy. Sau khi em tìm hiểu trên internet thì em biết được sự thật thì em cũng cảm thấy rất tức, vì mình bị dối trá. Bản thân em, em cũng rất ghét những điều dối trá và em đều mong muốn là những gì mình học trong lịch sử đều là sự thật. Đến nay suy nghĩ của em về VNCH đã thay đổi rất nhiều. Đối với em VNCH cũng là 1 quốc gia cũng là người Việt, những người lính VNCH xưa, những người yêu nước. Họ sống theo lý tưởng của riêng họ cũng giống như những người cộng sản sống theo lý tưởng riêng của người cộng sản. Chỉ có khác là mỗi chế độ và lý tưởng ở 2 miền khác nhau dẫn đến nội chiến 2 miền, mà người ta thường hay gọi là cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Đối với em cuộc chiến giữa VNCH và phe cộng sản Bắc việt là 1 cuộc chiến giữa 2 lý tưởng khác nhau chứ ko phải chiến tranh cứu nước như họ tuyên truyền gì cả. Em có những thay đổi nhận thức này là do sự tìm hiểu trên internet.

Sau khi em tìm hiểu trên internet thì em biết được sự thật thì em cũng cảm thấy rất tức, vì mình bị dối trá. Bản thân em, em cũng rất ghét những điều dối trá và em đều mong muốn là những gì mình học trong lịch sử đều là sự thật

Phương Dung

Lê Đông: Cũng như hai bạn thôi em cũng có những thay đổi khá nhiều. Dĩ nhiên, sự thay đổi này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân như nhờ internet, nhờ tiếp xúc với những con người VNCH hiện tại trong nước. Và đặc biệt nữa là hiện tình đất nước của VN ngày hôm nay dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN có sự nhiễu nhương, có gì đó bất ổn nên đã khiến em suy nghĩ rất nhiều về những chính sách và đường lối của ĐCS. Dưới con mắt em thì VNCH không như ĐCSVN tuyên truyền ngày trước. Họ cũng là một chính thể được công nhận rõ ràng. Và họ cũng không phải là độc ác ăn thịt dân như những gì sách báo hay những bịa đặt mà em học trước kia. Trong chính thể hiện tại thì họ là kẻ thất bại nên bị những kẻ chiến thắng đã vẽ đen. Do vậy, họ là nạn nhân và họ đáng cần được cái nhìn khách quan, trung thực hơn trong thời đại công nghệ internet ngày nay.

Chân Như: Các bạn đã bao giờ thử so sánh Việt Nam Cộng hòa với Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngoài Bắc trước 1975 và CHXHCN Việt Nam ngày nay hay chưa ?Nếu rồi thì các bạn thấy sự khác nhau thế nào ?

Lê Đông: Nếu đặt thời điểm hiện tại của chính quyền DCCH thì nó khác rất nhiều. Đơn cử như miền Nam trước năm 75 dưới chế độ của VNCH có một nền kinh tế, khoa học, giáo dục rất phát triển. Và em thấy mơ ước của chính quyền hiện tại đang muốn có đó là giáo dục được miễn phí, y tế được miễn phí; Những thành quả, những tài năng của mình được phục vụ một cách xứng đáng. Ngay từ thời điểm đó thì VNCH đã xây dựng lên một miền Nam đáng tự hào, thì đến ngày hôm nay phải nói rằng rất đáng khen và rất tự hào hơn những gì mà CHXHCN ngày nay làm và đang vẽ xấu họ (VNCH).

Minh Phúc: Nhiều lần em cũng có thử so sánh giữa chính quyền VNDCCH ngoài Bắc trước 1975 với CNXHVN ngày nay với VNCH cũng như lúc nãy bạn Đông có nói. Ngày xưa chính bà nội em, ông nội, ông ngoại cũng đã từng nói ngày xưa học sinh đi học không bị đóng tiền, nhiều khi được phát sữa uống mỗi sáng. Nhiều khi nhà một người đi làm là đủ nuôi cả nhà. Bây giờ thật sự (mà nói em mà có nói gian nữa lời thì xách súng bắn em cũng được. Em thề vậy luôn) cả gia đình 3 người đi làm hết mà có nhiều người không đủ ăn. Rồi xã hội ngày nay không chú ý đến đạo đức của con người, đạo đức đi xuống rất trầm trọng. Đơn giản thôi, cái gì cũng tiền hết. Mình vô bệnh viện khám bệnh hoặc là mình cấp cứu mà không có tiền, lạng quạng chết như chơi. Cách đây vài năm em bị tai nạn giao thông vô bệnh viện gia đình chưa đóng tiền kịp mình nằm đau đớn đợi cũng lâu, khi đóng tiền xong phải đút túi luồng tay này nọ. Bây giờ đi mua bán xe hay mua bán nhà đất cái giống gì cũng tiền với tiền. Họ không chú trọng cái tình người hay đạo đức như hồi xưa. Em bây giờ chỉ ước muốn cái đạo đức con người VN nó đỡ hơn bây giờ là em cũng cảm thấy mừng. Cũng như ông Lý Quang Diệu, thủ tướng Singapore hồi trước cũng chỉ mong là biết bao giờ Singapore mới bằng được VNCH của mình ngày xưa vậy thôi.

Phương Dung: Em chỉ có thể so sánh chiến tranh giữa VNCH và chính quyền VNDCCH ngày xưa cũng giống như chiến tranh giữa Bắc Hàn và Nam Hàn ngày xưa thôi. Một bên là theo chế độ chủ nghĩa tư bản có đồng minh là Mỹ và các quốc gia phương Tây. Một bên là theo chủ nghĩa cộng sản. Một bên thì giàu có, phát triển dân chủ tự do. Một bên là chịu sự tuyên truyền của nhà nước nghèo đói và lạc hậu.

Chân Như: Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt được 40 năm, các bạn có suy nghĩ gì về những người lính quân lực Việt Nam Cộng hòa khi xưa, đặc biệt là những người lính đã ngã xuống để bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 ?

Phương Dung: Em nghĩ những người lính VNCH xưa cũng là những người yêu nước. Họ chiến đấu hết mình để bảo vệ lãnh thổ và lý tưởng của họ. Em thấy thật bất công khi người ta lại nói lính VNCH là ngụy, là bán nước trong khi họ cũng là những anh hùng thật sự trong cuộc chiến bảo vệ đất nước giống như cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 chẳng hạn.

Bất cứ người lính bên nào cũng vậy cần được nhớ, cần được tri ân. Cũng như một câu hát ngày xưa của nhạc sĩ Trịnh Nam Ngân “rồi anh sẽ dìu em tìm thăm mộ bia kín trong nghĩa địa buồn, bạn anh đó đang say ngủ yên, xin cám ơn, xin cám ơn người nằm xuống

Minh Phúc

Lê Đông: Đối với em không riêng những người lính đã ngã xuống vì Hoàng Sa hay bất cứ ngã xuống vì một công cụôc bảo vệ tố quốc. Những con người đó phải được tri ân và ghi danh. Nhưng thực tế chế độ hiện tại đã không công bằng với những người lính VNCH. Ngay cả buổi tưởng niệm về họ nằm xuống vì Hoàng Sa năm 1974 hầu như ở trong nước đều cho là nhạy cảm và không được phép vinh danh. May mắn là sau những mâu thuẫn căng thẳng trên biển đông giữa VN và TQ và sự phát triển của internet, trong nước đã có những con người cổ vũ cho một nền dân chủ trong nước hơn thì họ đã phần nào đã tri ân những con người VNCH này và chế độ hiện tại cũng nới lỏng một phần nào để công bằng với họ hơn.

Minh Phúc: em cũng xin tóm tắt lại ý của em. Những người lính VNCH khi xưa đơn giản họ cũng chỉ là con người VN bình thường. Họ ra đi vì lý tưởng thiêng liêng cao cả của tổ quốc lúc đó. Em cũng xin nói thêm ở Bình An, Bình Dương có một nghĩa trang gọi là nghĩa trang nhân dân xã Bình An khi xưa là nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Em cũng biết cách đây khoảng trừng 1-2 năm gì đó đại sứ quán Mỹ có xuống họ cũng có chỉnh sửa này nọ. Thật sự đừng nhìn những gì họ làm hào nhoáng bên ngoài, họ sửa chữa bên ngoài thôi còn phía bên trong có nhiều ngôi mộ phải nói là đã mất bia, rồi khi mưa xuống phần mộ của người lính VNCH muốn trôi đi hết. Thỉnh thoảng, em cũng một năm vô 1-2 lần để em thăm viếng đốt nhang cho họ. Bất cứ người lính bên nào cũng vậy cần được nhớ, cần được tri ân. Cũng như một câu hát ngày xưa của nhạc sĩ Trịnh Nam Ngân “rồi anh sẽ dìu em tìm thăm mộ bia kín trong nghĩa địa buồn, bạn anh đó đang say ngủ yên, xin cám ơn, xin cám ơn người nằm xuống.

Xin cám ơn ba bạn Phương Dung, Lê Đông và Minh Phúc đã tham gia chia sẻ.

Giá Trị Của Việt Nam Cộng Hòa

Từ 1954 tại miền Bắc và sau 1975 trên phạm vi cả nước, bộ máy tuyên truyền của đảng CS đã không ngừng vẽ trong nhận thức của bao nhiêu thế hệ Việt Nam một VNCH chẳng khác gì một con ma, ghê sợ, hung dữ và tội lỗi nhất trong thế gian này. VNCH là hiện thân của mọi thứ tội ác.

Trong nhận thức không chỉ tuổi trẻ Việt Nam sinh sau 1975 mà ngay cả các tầng lớp cán bộ, đảng viên, nhà văn, nhà thơ thì VNCH có ba đặc điểm lớn là “tham nhũng”, “trấn áp” và “ôm chân đế quốc Mỹ”.

Trong tiểu luận “Khám nghiệm một hồn ma” trên Talawas hơn mười năm trước người viết đã có dịp phân tích thể chế cộng hòa tại miền Nam. Xin trích một phần bài viết đó ở đây để chia sẻ với các độc giả chưa đọc.

Miền Nam trước 1975 có tham nhũng không? Có.

Miền Nam có đàn áp biểu tình, đối lập không? Có.

Miền Nam trước 1975 có sống bám vào viện trợ Mỹ không? Có.

Nhưng các đặc điểm đó có đại diện cho Việt Nam Cộng hoà (VNCH) không? Không.

Cho đến nay, một số người hoặc vì không có cơ hội nghiên cứu sinh hoạt chính trị tại miền Nam, không phân biệt được sự khác nhau giữa chính quyền và chế độ chính trị hoặc vì nghe riết những lời tuyên truyền của đảng đến độ nhập tâm, đã đồng hoá chính quyền của các ông Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh với VNCH.

Như một viên ngọc nằm trong lòng lớp rong rêu của vỏ con trai, trên tất cả, giá trị đích thực của VNCH không nằm trong tham nhũng, trấn áp và đồng đô la Mỹ mà nằm trong Hiến pháp VNCH đặt nền tảng trên một thể chế dân chủ do dân và vì dân.

Lời mở đầu của Hiến pháp 1967 do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967, xác định Việt Nam là một chế độ cộng hòa “Dân chủ độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân” phát xuất từ “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.”

Ngoài phần mở đầu hùng hồn nêu trên, chuyên chở trong suốt 9 chương và 117 điều của Hiến pháp 1967 là nền tảng của chế độ cộng hòa, qua đó, quyền lãnh đạo đất nước như chỉ rõ trong điều 3, được phân quyền rõ rệt: “Ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản Tự do, Dân chủ và Công bằng xã hội”.

Hiến pháp 1967 tốt đẹp đến nỗi ông Lý Quý Chung, trong Hồi ký không tên, xuất bản tại Sài Gòn trước ngày ông qua đời, dù chê bai các chính quyền miền Nam tàn tệ, cũng không thể nói xấu bộ luật tối thượng của chế độ cộng hoà như một diễn đàn để ông ta thực thi dân chủ: “Quốc hội lập hiến kéo dài một năm đã cung cấp cho tôi một môi trường học tập đấu tranh chính trị tại nghị trường và từ diễn đàn này, tôi cũng có cơ hội bày tỏ công khai qua mạng lưới báo chí Sài Gòn các quan điểm của mình đối với chính quyền, đối với các vấn đề dân chủ, chiến tranh, hoà bình v.v…”

Về căn bản, không có nhiều khác biệt giữa Hiến pháp VNCH 1967 và Hiến pháp Nam Hàn 1948 được tu chỉnh lần cuối vào năm 1987. Cả hai hiến pháp đều dựa trên chế độ cộng hoà, phân quyền rõ rệt, thích hợp với đà tiến hoá của văn minh nhân loại.

Dân chủ không phải là món quà của ông thần tài đem đặt ngay trước cửa nhà mà là chiếc máy lọc từ nước đục sang nước trong, từ phong kiến lạc hậu đến văn minh tiên tiến, và trong quá trình đó hai quốc gia VNCH và Nam Hàn, đều phải trải qua những kinh nghiệm máu xương trên con đường dân chủ hoá đất nước. Giống như người dân Nam Hàn, người dân miền Nam Việt Nam cũng vừa học dân chủ và vừa tập sống dân chủ với tất cả những khó khăn thử thách.

Điểm khác nhau chính giữa Nam Hàn và Nam Việt Nam là cơ hội. Nam Hàn có cơ hội để biến những ước mơ của dân tộc Triều Tiên gói ghém trong hiến pháp của họ để ngày nay là nước giàu mạnh nhất nhì châu Á. Miền Nam Việt Nam thì không.

Chế độ cộng hoà tại miền Nam Việt Nam ra đời và lớn lên trong một hoàn cảnh chiến tranh tàn khốc, trong đó các nguyên tắc dân chủ đã trở thành con dao hai lưỡi. Chính con dao dân chủ hai lưỡi đó đã đâm vào thân thể của chế độ cộng hoà hàng trăm vết thương đau đớn từ ngày mới ra đời cho đến gục xuống trong tức tưởi.

Ngay cả những quốc gia tiên tiến như Pháp, Mỹ cũng phải bước qua con đường đầy máu nhuộm để có được nền dân chủ như hôm nay. VNCH cũng vậy. Miền Nam có đàn áp chính trị nhưng cũng có đấu tranh chính trị, có ông quan tham nhũng nhưng cũng có nhiều phong trào chống tham nhũng hoạt động công khai, có ông tướng lạm quyền nhưng cũng có ông tướng trong sạch, có nghị gà nghị gật nhưng cũng có những chính khách, dân biểu, nghị sĩ đối lập chân chính.

Nếu trước 1975, vì thiếu cái nhìn về cả hai bên của cuộc chiến và bất mãn trước xã hội nhiễu nhương, việc kết án chính quyền là “trấn áp” có thể còn thông cảm được, thế nhưng sau 42 năm sống dưới chế độ độc tài đảng trị vẫn có kẻ biện minh cho hành động đốt xe, bắt cóc, ném bom xăng vào thương xá, ném lựu đạn vào nhà hàng ăn uống trước đây thì quả thật là vô cảm.

Đặc điểm thứ ba đảng tuyên truyền là miền Nam chỉ biết “ôm chân Mỹ”. Thật mệt mỏi nếu lại phải lần nữa đem so sự lệ thuộc vào Mỹ của chính quyền miền Nam và sự lệ thuộc vào Liên Xô, Trung Cộng của đảng CSVN và cũng chẳng sướng ích gì khi phải đọc lại bảng kê khai vũ khí, quân trang, quân dụng mà hai đế quốc cộng sản đổ xuống Việt Nam.

Cho dù sự lệ thuộc vào cường quốc là điều không tránh khỏi trong thế giới phân cực của thời kỳ Chiến tranh Lạnh vừa qua thì chọn lựa cường quốc nào sẽ mang lại nhiều lợi ích cho đất nước hơn?

Lịch sử đã chứng minh một cách hùng hồn, hầu hết các nước chọn lựa hay do điều kiện chính trị thế giới đẩy đưa, đã đứng về phía tự do dân chủ như Nhật Bản, Tây Đức, Nam Hàn, Đài Loan, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ v.v. đều trở nên các quốc gia ổn định và phát triển nhờ chính sách đối ngoại thân Mỹ một cách khôn khéo, trong lúc các nước theo chân Liên Xô, Trung Cộng như Bắc Việt, Cu Ba, Bắc Hàn thì kết quả ra sao không cần phải phân tích.

Không ai từng chống Mỹ quyết liệt hơn cố tổng thống Anwar Sadat nhưng để mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân Ai Cập, năm 1976, ông đã bỏ đồng minh Liên Xô để bước sang phía thế giới tự do cho dù ông biết trước sự chọn lựa đó có thể trả giá bằng nhiều rủi ro như ông tiên đoán trong diễn văn đọc trước Quốc hội Israel ngày 20 tháng 11 năm 1967.

Một số người có thể cho rằng Hiến pháp VNCH cũng do người Mỹ nhúng tay vào. Dù điều đó đúng thì đã sao. Hiến pháp của quốc gia Nhật Bản hiện đại cũng do bàn tay của Mỹ nhưng ngày nay tướng McArthur chẳng những không bị oán ghét mà còn được nhân dân Nhật xem như là một trong những người có công lớn trong việc xây dựng nước Nhật hiện đại.

Dân chủ là một kỳ quan được nhân loại bồi đắp qua nhiều thời đại chứ không phải là tài sản riêng của quốc gia nào. Học hỏi cái hay cái đẹp của các nước tiên tiến để áp dụng vào cuộc cách mạng dân tộc và phát triển đất nước như cụ Phan Chu Trinh từng thống thiết kêu gào gần trăm năm trước, luôn luôn là điều đáng khuyến khích.

Phân tích để thấy, chế độ cộng hoà tuy không còn hiện diện tại miền Nam nhưng các giá trị dân tộc, nhân bản và khai phóng thể hiện trong Hiến pháp VNCH vẫn còn đó. Gia tài quý giá đó chẳng những không rã mục theo chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, Dương Văn Minh mà ngày nay đã vượt ra khỏi biên giới Bắc Nam để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc.

Nếu ai cho người viết cường điệu hãy tạm gác qua bên các định kiến Bắc Nam, khuynh hướng chính trị, đảng phái, tôn giáo, tả khuynh, hữu khuynh, thù hận riêng tư và thậm chí che luôn bốn chữ Việt Nam Cộng hoà trên trang đầu của Hiến pháp mà chỉ đọc một cách nghiêm chỉnh nội dung của Hiến pháp VNCH 1967 thôi, người đọc sẽ công nhận đó chính là mục tiêu mà dân tộc Việt Nam cần phải đạt đến.

Việc lặp lại những lời tuyên truyền cũ mèm của đảng cho rằng chế độ cộng hoà tại miền Nam là “sản phẩm do chính quyền Mỹ tạo ra trong Chiến tranh Lạnh” chẳng khác gì chê lớp rong rêu ngoài vỏ một con trai.

Hiến pháp VNCH có thể chưa hoàn chỉnh nhưng là một văn kiện tham khảo cần thiết để kiến tạo một Việt Nam dân chủ cường thịnh. Hạt giống dân chủ khơi mầm tại miền Nam cũng không chỉ bắt đầu sau khi đất nước bị chia đôi mà đã có từ hàng trăm năm trước.

Lợi dụng chính sách Nam kỳ tự trị của thực dân, các nhà cách mạng tại miền Nam có cơ hội học hỏi và áp dụng phương pháp đấu tranh nghị trường, tiếp cận các tư tưởng dân chủ Tây phương, mở mang dân trí làm nền tảng cho chế độ cộng hoà sau này.

Đó không phải là sản phẩm của Tây hay Mỹ mà là vốn quý của dân tộc đã được đổi bằng mồ hôi nước mắt của nhiều người. Những ai biết gạt bỏ định kiến Bắc Nam, gạt bỏ lòng “căm thù Mỹ Ngụy”, sẽ thấy đó chính là hành trang cần thiết cho nỗ lực mưu cầu một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau.

Tiếc thay, viên ngọc và viên sỏi khác nhau khi nằm trong tay người thợ bạc nhưng lại giống nhau khi nằm trong tay mấy cậu bé bắn chim.

Do đó, phục hưng VNCH không có nghĩa là phục hưng chính quyền miền Nam. Chính thể không đồng nghĩa với một chính quyền và do đó không sống hay chết theo một chính quyền.

Giá trị của VNCH được xây bằng xương máu của bao nhiêu người và ngày nay đã vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc.

Lịch sử Việt Nam như một dòng sông, có khi cuồn cuộn lúc âm thầm, có chỗ sâu chỗ cạn nhưng chưa bao giờ ngưng chảy. Đó là sự thật.

Khoảng thời gian từ khi Mã Viện, danh tướng nhà Đông Hán, đánh bại Hai Bà Trưng (năm 43) đến khi Lý Nam Đế đánh bại quân Lương Vũ Đế và dựng nước Vạn Xuân (năm 543) là tròn 500 năm. Biết bao nhiêu lớp người đã sinh ra và chết đi trong suốt 5 thế kỷ sống trong bóng tối nô lệ nhưng sức sống Việt Nam vẫn tồn tại và lớn lên.

Đối mặt với một kẻ thù Trung Cộng đông hơn nhiều và mạnh hơn nhiều, chưa bao giờ sức mạnh tổng hợp của 90 triệu người Việt trong nước và 3 triệu người Việt ở hải ngoại cần thiết như hôm nay.

Chỉ có sức mạnh toàn dân tộc phát triển trên cơ chế dân chủ tự do mới mong thắng được Trung Cộng và mọi kẻ thù có âm mưu xâm lược Việt Nam. Tổ tiên Việt Nam đã làm được rồi các thế hệ Việt Nam ngày nay cũng sẽ làm được.

Người viết biết rằng, đối với một số người Việt đã bị bộ máy tuyên truyền đầu độc quá lâu và các bạn trẻ bị nhào nặn hoàn toàn trong hệ thống giáo dục một chiều CS, để có một nhận thức đúng về lịch sử là một quá trình đấu tranh tư tưởng khó khăn.

Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn thẳng vào thực tế đất nước sau 45 năm vẫn là một nước lạc hậu về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, quốc phòng và đời sống. Việt Nam còn thua xa những nước ở châu Phi như Ghana, Sierra Leone, Namibia vì những quốc gia đó còn nghèo nhưng hãnh diện vì chính phủ họ do nhân dân họ bầu lên.

Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn vào cách giải quyết tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Cộng của lãnh đạo CSVN. Ngoài những lời phản đối đọc như kinh nhật tụng họ không có và cũng không thể có một chọn lựa dứt khoát nào chỉ vì quyền lợi trước mắt của một nhóm người cầm quyền được đặt lên trên quyền lợi lâu dài của đất nước.

Sau mỗi cơn giận hờn, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy.

Thảm trạng xã hội Việt Nam hôm nay, những lạc hậu kinh tế hôm nay, những yếu kém về quốc phòng hôm nay, những cô đơn trong bang giao quốc tế hôm nay là những câu trả lời cho những ai còn do dự, còn một chút tin tưởng nào đó ở lãnh đạo đảng CSVN.

Giống như hầu hết các nước cựu CS ở Đông Âu và khối Liên Xô, thể chế Cộng Hòa là chọn lựa đương nhiên và dứt khoát. Các quốc gia sẽ bình đẳng trước công pháp quốc tế. Những khẩu hiệu tuyên truyền rất sến như “16 chữ vàng”, “hữu nghị Việt Trung” sẽ bị chôn sâu theo xác của ý thức hệ CS.

Giành lại Hoàng Sa và bảo vệ Trường Sa là một cuộc tranh đấu gian nan, gai góc, bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, nhưng chính nghĩa và chân lý cuối cùng sẽ thắng.

Trần Trung Đạo

Hình Ảnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Trong Mắt Lính Mỹ

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Có lẽ chẳng ai bước ra khỏi Chiến tranh Việt Nam với danh tiếng bị hủy hoại nhiều như Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH). Từ rất lâu trước khi chiến tranh kết thúc, các binh sĩ QLVNCH đã trở thành vật tế thần dễ dàng và luôn sẵn sàng cho những thất bại của Mỹ, một hình mẫu điển hình trong các nghiên cứu học thuật và văn hóa đại chúng. Chúng ta được nghe kể rằng họ là bọn hèn nhát bất tài, hay trốn tránh nhiệm vụ, để lại mọi việc khó khăn cho người Mỹ.

Là một người nghiên cứu Việt Nam tại một trường đại học Mỹ với kho tài liệu lớn lưu trữ lịch sử qua lời kể (oral history) về thời kỳ Việt Nam, cả bằng văn bản và băng ghi âm, tôi may mắn có cơ hội đặc biệt để đào sâu hơn và để minh chứng rằng câu chuyện kể trên là mơ hồ và bất công. Đây là cơ hội đặc biệt bởi vì tôi không muốn nói rằng lính Mỹ đã sai – thay vào đó, tôi đã tình cờ tìm được những câu chuyện từ các cựu binh Mỹ nói về sự can đảm và hiệu quả công việc của những chiến hữu đồng minh của họ, những người lính Nam Việt Nam.

Tất nhiên, tôi cũng đã gặp nhiều người Mỹ có thái độ tiêu cực về QLVNCH. Nhưng nhiều người trong số họ là nhân viên hậu tuyến, những người chưa một lần chiến đấu bên cạnh QLVNCH ở tiền tuyến và, tôi cho rằng, họ đã rút ra kết luận không chính xác từ những câu chuyện của người khác mà họ được nghe. Những câu chuyện tiêu cực còn lại thì tập trung chủ yếu vào khác biệt văn hóa hơn là bất cứ điều gì khác. Có nhiều hơn một trường hợp người được phỏng vấn đã nói về thói quen của lính QLVNCH khi cầm tay nhau ra chiến trường. Một chuyên gia phát thanh người Mỹ từng phục vụ tại Bình Dương hồi năm 1967 đã chẳng thể hiểu được điều ấy, thậm chí là nhiều năm sau đó: “Việc này đại loại là kỳ lạ đối với chúng tôi. Tôi chẳng thể nghĩ được gì hơn ngoài việc cho rằng họ là những người bạn thân, và đó là những gì họ đã làm tại đó, nhưng nó trông cứ thật kỳ lạ.”

Các cựu binh Mỹ khác thì thấy kỳ lạ khi gia đình của những người lính VNCH thường theo họ đến trại. Như lời một lính G.I.: “Những binh sĩ này phần lớn là lính nghĩa vụ. Họ bước ra chiến trường cùng với vợ con trên đường mòn. Khi chốt dựng vị trí phòng thủ ban đêm, giống như là cả đại gia đình đều ở đó vậy. Trong nhiều trường hợp, họ chẳng muốn ra ngoài chiến đấu. Họ chỉ muốn sống sót mà chăm sóc gia đình mình.”

Nhưng trong nghiên cứu của tôi, bên cạnh các đánh giá tiêu cực của người Mỹ cũng có thể dễ dàng tìm thấy những câu chuyện tích cực, và có phần cảm thông, về QLVNCH. Chẳng hạn, nhiều cựu binh thực sự thích có các gia đình QLVNCH ở bên cạnh và ca ngợi việc các bà vợ sẵn sàng mạo hiểm mạng sống của họ để tìm thực phẩm tươi sống từ các khu làng gần đó, nấu thành bữa ăn thịnh soạn cho chồng và lính Mỹ. Số khác nhận ra rằng việc sống cùng các thành viên gia đình có thể là nguồn hỗ trợ tinh thần vững chắc cho các binh sĩ QLVNCH, như một lời nhắc nhở về mục tiêu chiến đấu của họ.

Nhìn chung, tôi thấy rằng thái độ tích cực và sự hiểu biết sâu sắc hơn của người Mỹ đối với các đồng minh QLVNCH của họ thường xuất hiện sau một thời gian sống chung, cùng làm việc và cùng chiến đấu với nhau, như trong ” kỷ nguyên của những trận đánh lớn ” (era of big battles) vào năm 1967, khi các đơn vị lính Mỹ và lính Nam Việt Nam chiến đấu sát cánh bên nhau. Sau một ngày chiến đấu khó khăn, nhiều chàng lính G.I. sẽ ngồi xuống với các đồng nghiệp Việt Nam để kể về gia đình, lấy từ túi áo những bức hình chụp người thân yêu của mình. Rồi cũng những người lính G.I. ấy nhận ra rằng: không giống như chuyến đi chỉ kéo dài 1 năm hoặc 18 tháng của họ, hầu hết các binh sĩ Nam Việt Nam phải phục vụ một thời gian dài không xác định. Những người đàn ông địa phương này buộc phải chiến đấu cho đến khi kết thúc chiến tranh, mà chẳng hề biết rằng ngày chiến tranh kết thúc cũng là ngày họ phải xa cách gia đình một lần nữa.

Hai bên cũng gắn kết trong cuộc chiến đơn vị nhỏ tiêu biểu cho phần lớn Chiến tranh Việt Nam. Cứ mỗi câu chuyện về việc lính trinh sát VNCH vội vàng rút lui sau loạt súng đầu tiên, để người Mỹ lại một mình trong rừng, thì cũng có một câu chuyện khác, tích cực hơn, nói về một người lính VNCH cõng theo một cố vấn người Mỹ bị thương trên cơ thể nhỏ bé của mình đến nơi trú ẩn an toàn. Và cũng có cả những câu chuyện ở bên còn lại, như khi một cố vấn người Mỹ quyết định phá vỡ mọi quy tắc để gọi trực thăng Mỹ đến di tản một binh sĩ QLVNCH bị thương nặng. (Nếu ông chờ trực thăng Nam Việt Nam như đáng ra ông phải làm, thì mọi chuyện có lẽ sẽ quá muộn.) Hoặc câu chuyện khác về một trung sĩ lính thủy đánh bộ người Mỹ hồi tưởng lại việc suýt chút nữa phải ra tòa quân sự vì dám ăn chung với lính VNCH. Với giọng nói run lên vì xúc động, người này nhớ lại khi ông thách thức cấp trên của mình, “Nếu chúng ta không bẻ bánh ăn chung với họ, làm sao chúng ta có thể chiến đấu bên cạnh họ?”

Nếu tình bạn quả thật tồn tại trong chiến đấu, vậy thì những hình ảnh tiêu cực đến từ đâu? Gác lại định kiến chủng tộc, chúng ta có thể xác định một nguyên nhân nằm trong mối quan hệ chiến đấu giữa lực lượng Mỹ và QLVNCH. Người Mỹ giúp nâng cao tinh thần chiến đấu của QLVNCH nhưng đồng thời đã tạo ra sự phụ thuộc quá mức vào hỗ trợ quân sự của họ. Các cố vấn Mỹ được giao về các đơn vị QLVNCH là những người duy nhất có thẩm quyền yêu cầu hỗ trợ chiến thuật trên không khi bị tấn công nặng nề. Vì vậy, theo thời gian, một số sĩ quan QLVNCH dần trở nên quá phụ thuộc vào sự vượt trội về công nghệ của các đối tác Mỹ, và một số người Mỹ có thể đi đến kết luận rằng các sĩ quan của QLVNCH thiếu sức chịu đựng và tính kiên cường.

Tất nhiên, nhiều đội quân tác chiến của Mỹ chưa bao giờ gặp lính QLVNCH trên chiến trường, bởi hai bên thường thực hiện các vai trò chiến lược rất khác nhau: Người Mỹ chỉ huy các hoạt động chiến đấu, trong khi QLVNCH chịu trách nhiệm về bình định và an ninh lãnh thổ. Dù các nhà lãnh đạo Mỹ ở Sài Gòn đã cho thành lập các đội huấn luyện cơ động để hướng dẫn các đơn vị QLVNCH kể từ năm 1967, thời gian họ sống cùng các đơn vị Nam Việt Nam vẫn rất hạn chế.

Đối với một số người Mỹ, câu trả lời đến một cách dễ dàng và đầy cảm thông. Họ tin rằng lính VNCH là những người lính tốt, đã chiến đấu hết sức có thể để bảo vệ mảnh đất của mình. Họ là những đồng minh trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản toàn cầu. “Tôi sẽ làm điều tương tự cho đồng bào tôi trên đất Mỹ,” một cựu binh Mỹ nói. Nhưng những người Mỹ khác lại phẫn nộ với những gì họ cho là một gánh nặng bất công. H. Norman Schwarzkopf, cựu binh từng chiến đấu ở Việt Nam và sau đó lãnh đạo liên quân Mỹ và các đồng minh trong Chiến dịch Bão táp Sa mạc, nói: “Đây là đất nước của họ, là trận chiến của họ. Sau cùng thì họ sẽ phải gánh vác lấy. Tôi nghĩ ta chỉ nên cung cấp cho họ các kỹ năng, sự tự tin cùng các thiết bị họ cần và khuyến khích họ chiến đấu. Tuy nhiên, ngay cả khi lập trường chính thức là chúng ta gửi các lực lượng đến hỗ trợ Nam Việt Nam chiến đấu, sự thật là ngày càng có nhiều trận chiến được tiến hành bởi chỉ riêng người Mỹ, thay vì bởi các đơn vị Mỹ và VNCH cùng chiến đấu cạnh nhau.”

Chúng ta biết rất ít về các cựu binh của chính mình (Mỹ), và lại càng biết ít hơn về các cựu binh Nam Việt Nam đã chiến đấu bên cạnh họ.

Chúng ta không biết những trải nghiệm hàng ngày của họ là như thế nào, khi chỉ được trang bị rất ít vũ khí và thường phải chiến đấu ở rìa ngoài của tuyến phòng thủ, đôi khi vai trò chỉ nhỉnh hơn một chút so với bia đỡ đạn. Khoảng 254.250 lính miền Nam đã chết trong chiến trận từ năm 1960 đến 1975, gần gấp năm lần số người Mỹ, ở một đất nước chỉ có 15 triệu dân. Chúng ta đã không nghe thấy những gì họ nghe, không cảm nhận những gì họ cảm nhận, cũng không thấy những gì họ thấy nơi chiến trường tuyệt vọng. Ta là ai mà dám phán xét các cựu binh Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam và các đồng minh địa phương của họ, những người họ xem là bạn bè, là anh em, dù là để lãng mạn hóa hay nạn nhân hóa, ca ngợi hay phỉ báng họ? Và rồi khi họ nói về những trải nghiệm của mình, liệu chúng ta có thực sự lắng nghe?

Ngày nay, lòng dũng cảm và sự hy sinh của những người lính VNCH đã hoàn toàn rơi vào quên lãng – ở Việt Nam, mọi chuyện đã bị xóa sạch bởi bên thắng cuộc; ở Mỹ, đơn giản là do lịch sử bỏ bê. Một trong số ít nơi họ được vinh danh là Công viên Tưởng niệm Cựu chiến binh Việt Nam tại Angel Fire, New Mexico, mà tôi đã đến thăm trong Ngày Tưởng niệm. Bên cạnh những viên gạch ghi tên một số cựu binh Úc và Đại Hàn, xuất hiện một vài cái tên người Việt, không phải ai trong số họ cũng có thể đến nơi an toàn và biến đất Mỹ thành ngôi nhà thứ hai của mình.

Một trong những cái tên đó thuộc về cha tôi. Ông là một lính VNCH, qua đời khi tôi vừa 14 tuổi. Ngay cả sau cuộc chiến, tôi chưa từng nghe ông một lần nói xấu người Mỹ, hay phía Cộng sản. Đứng bên cạnh viên gạch mang tên cha mình, tôi đã khóc, tôi trân trọng nơi duy nhất trên trái đất này ghi nhận những đóng góp của cha tôi – không phải trong sỉ nhục và ghét bỏ, mà là trong danh dự và tình yêu. Nơi linh thiêng này không chỉ ghi nhớ và tôn vinh sự hy sinh của những người phục vụ cho đất nước của họ dù thuộc phe nào, mà còn kêu gọi hòa giải thực sự và hòa bình lâu dài.

Nghiên cứu góc nhìn của những người lính Mỹ về lính VNCH, mà một trong số họ là cha tôi, và lắng nghe những câu chuyện của cựu binh Mỹ đã giúp tôi thêm mở mang, cũng như hỗ trợ hành trình học tập của tôi. Mối quan hệ Mỹ – QLVNCH rất phức tạp và là một ví dụ cảm động về trải nghiệm của con người trong một tình huống cực đoan. Câu chuyện của họ đã bị lãng quên, bị hiểu lầm, bị đơn giản hóa và chính trị hóa quá lâu. Chúng ta có thể nghĩ rằng mình hiểu câu chuyện đó, nhưng thật ra ta biết rất ít về các cựu binh của mình. Chúng ta nên và cần tìm hiểu thêm. Nếu các cựu binh ấy lên tiếng, chúng ta phải lắng nghe.

Carie Uyen Nguyen là nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành lịch sử quân sự tại Đại học Texas Tech.

Người Trung Quốc Nghĩ Gì Về Người Việt Nam?

Trong mắt đại đa số người Trung Quốc, Việt Nam là một nước bé tí tẹo, nghèo, chả biết có nói tiếng mẹ đẻ không hay phải vay mượn tiếng nước khác, nhiều phụ nữ Việt Nam sang đây lấy chồng dân tộc, nhiều bà lấy mấy chồng trong vài năm, về đến Việt Nam thì giàu sụ…

Đây là bài đăng được trích từ cuốn sách mới ra mắt của Spiderum: “Du học ký: Vạn dặm có chi?”, hi vọng sẽ mang cho bạn những góc nhìn khác về Trung Quốc nói riêng và chuyện du học nói chung.

Người Trung Quốc nghĩ gì về người Việt Nam?

Cũng phải mất 5 tháng trời đắn đo với hai cơ hội đi Singapore hay đi Trung Quốc, mình mới ký vào bản hợp đồng sang Thâm Quyến. Công việc trước đó của mình là làm phiên dịch ở phòng phát triển sản phẩm của một công ty chuyên về quà tặng cao cấp. Nghe thì oai thế thôi, chứ công ty hay gọi tắt là “phòng mua”. Ngoài dịch thuật văn bản, tài liệu, mình còn có nhiệm vụ mua hàng trực tuyến bằng tiếng Anh, đón tiếp, đi theo phiên dịch cho sếp khi nhà cung cấp nước ngoài đến thăm công ty.

Do đặc thù các mặt hàng, nên mình chủ yếu phụ trách về đồ công nghệ. Đợt ấy sếp ở Việt Nam có dự án mới nên mình có cơ hội làm việc trực tiếp với sếp người Trung sau này. Lúc đầu qua Skype, email, chốt đơn, rồi có cuộc gặp gỡ tại Hà Nội. Sau khi dự án thành công tốt đẹp, sếp người Trung mình bày tỏ sự ngạc nhiên bởi sao người Việt mà nói tiếng Anh tốt, chuyên nghiệp thế. Một tuần sau ông gửi email cho mình, hỏi mức lương ở công ty đang làm bao nhiêu? Nếu có thể, mời mình sang đây làm, chuyên đi đón tiếp khách nước ngoài đến thăm công ty, sales và giúp công ty chỉnh sửa thông tin sản phẩm, từ khoá, cũng như đầu tư hình ảnh trên Alibaba, lương đề xuất là 1xxx USD/ tháng. (…)

Thâm Quyến, tên tiếng Anh là Shenzhen, là thành phố trực thuộc tỉnh của tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Thâm Quyến nghĩa là “con lạch sâu” nhưng tên địa danh này trong tiếng Việt thường phiên âm sai thành Thẩm Quyến. Đây là đặc khu đầu tiên của Trung Quốc do lợi thế nằm giáp Hồng Kông. Địa điểm này được chọn là thử nghiệm mô hình cải cách kinh tế Trung Quốc vì cả dân Thâm Quyến và dân Hồng Kông cùng có chung ngôn ngữ (tiếng Quảng Đông), chung văn hóa và dân tộc, nhưng Thâm Quyến lại có giá nhân công, đất đai rẻ hơn nhiều. Ý tưởng đã thành công rực rỡ, tạo tiền đề cho Trung Quốc đẩy nhanh quá trình cải cách mở cửa kinh tế.

Là một thành phố rất trẻ, nhưng GDP Thâm Quyến hiện nay đã lọt top 10 thành phố giàu có nhất Trung Quốc, chỉ sau Thượng Hải và Bắc Kinh. Có thể nói Thâm Quyến là thiên đường công nghệ, “thung lũng Silicon châu Á”, nổi tiếng với các nhà máy lắp ráp như Foxconn, Apple, Lenovo… Các công ty phần mềm đầu não như Tencent, Baidu, Youku của Trung Quốc cũng nằm vùng ở thành phố này.

Người ở Thâm Quyến 99% là dân tứ xứ, 1% còn lại dân bản địa cực giàu, bởi họ được chính phủ mua đất với giá rất cao (trước đây Thâm Quyến chỉ là một làng chài nhỏ, sau chính sách của Đặng Tiểu Bình thì trở thành đặc khu kinh tế và phát triển một cách nhanh chóng).

Tầng lớp trí thức, tốt nghiệp đại học, cao đẳng phần lớn đều làm giám đốc và nhân viên văn phòng (chủ yếu làm sales), tầng lớp tốt nghiệp cao trung trở xuống thì làm tại các khu vực nhà máy, xưởng sản xuất và lắp ráp.

Ở Thâm Quyến không có nhiều người Việt như ở các tỉnh gần biên giới Việt Nam (người Việt tập trung nhiều nhất ở tỉnh Quảng Tây), nên khi mình giới thiệu đến từ Việt Nam, rất nhiều phản ứng đủ thể loại ố á khiến mình không khỏi ngỡ ngàng. Tựu trung lại là những câu hỏi sau:

– Việt Nam nói tiếng Trung, tiếng Thái hay tiếng Anh? (Vài bác còn hồn nhiên chào mình Sawadikap) – Người Việt ăn cay không, có món A, B,C như ở bên này chứ? – Việt Nam có rất nhiều xe máy đúng không? – Nghe nói phụ nữ Việt Nam giỏi cơm nước giặt giũ đúng không? – Du lịch đến Việt Nam rất rẻ đúng không?

Vân vân và vân vân. Toàn những câu hỏi nghe rất… khó chịu. Đại ý, trong mắt đại đa số người Trung Quốc, Việt Nam là một nước bé tí tẹo, nghèo, chả biết có nói tiếng mẹ đẻ không hay phải vay mượn tiếng nước khác, nhiều phụ nữ Việt Nam sang đây lấy chồng dân tộc, nhiều bà lấy mấy chồng trong vài năm, về đến Việt Nam thì giàu sụ…

Thế đấy, hóa ra mình không ưa nước họ như thế nào, thì họ cũng chẳng có thiện cảm tốt đẹp với nước mình. Người Việt hay nói “bọn Trung Quốc” nó thâm lắm, muốn chiếm nước mình, rồi hại dân ta bằng cách thải bao nhiêu hàng rởm, hàng giả qua biên giới. Bọn thương lái thì mua sừng trâu, lá non, những loại hàng nghe thì dở hơi với giá cắt cổ, mua chuộc mấy bác nông dân hám lợi nhỏ trước mắt rồi sau đó bốc hơi, để rồi nước mắt lưng tròng, bao lâu sau cũng không hồi lại được vốn. Rồi thì “bọn Trung Quốc” vô văn hóa, đi đâu cũng nói to, khạc nhổ, không có ý thức…

Người Châu Á chúng ta hay nhìn và rêu rao về những mặt tiêu cực, với tư tưởng của Chu Du (trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, đố kỵ với Khổng Minh mà hộc máu chết), ngại khen, ngại công nhận người khác tài giỏi, tốt đẹp hơn. Nhắc đến nhau chỉ “ôi dào, cái nước ấy có gì, nghèo rớt”, kể như trót giàu hơn thì “vì nó là thuộc địa của Mỹ”, nếu toàn trai xinh gái đẹp thì “toàn đi phẫu thuật, để mặt mộc xem” (Hàn Quốc)… Thôi thì cũng thông cảm cho họ, văn hóa tiểu nông ăn sâu quá rồi, con gà thì tức nhau tiếng gáy, và cũng vì chút Chu Du còn sót lại, cả ngàn năm Bắc thuộc còn gì…

Quay trở lại vấn đề Việt Nam trong con mắt của Trung Quốc, là một đứa hiếu thắng nên lúc đầu mình phản ứng khá gay gắt bằng tất cả sự tự hào rằng: nước tôi có ngôn ngữ riêng, tôi cũng học tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai, nước chúng tôi đã hoàn toàn độc lập dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ, quê hương tôi nổi tiếng với danh lam thắng cảnh như vịnh Hạ Long, Nha Trang, Đà Nẵng, rồi cả áo dài, cà phê…

Tuy nhiên kỷ niệm khó quên nhất là một lần mình theo sếp đi gặp khách người Qatar. Đi cùng với khách là một bà người Trung với chức năng như phiên dịch. Bà này nom cũng trẻ trung, tiếng Anh bình thường nhưng tỏ ra vô cùng tự tin, nói hết phần người khác. Bả tỏ ra cực kỳ ngạc nhiên khi mình không phải người Trung, còn ông khách thì Việt Nam là cái nước nào, nổi tiếng về cái gì? Mình chưa kịp trả lời, thì vâng, chính là người phụ nữ lắm lời ấy “Her country is famous for WIFE”. Với cái vốn tiếng Anh chưa chuẩn của bả, mình tưởng RICE, nhưng không, mụ ấy lặp lại “WIFE”. Đại ý, ở Trung Quốc, muốn lấy được vợ thì phải có nhà, có ô tô, còn những ông không đủ tiền sẽ lấy vợ Việt Nam, vì lấy gái Việt Nam chỉ cần chút tiền là đủ. Thề là lúc ấy mình chỉ muốn… phi cái dép vào mồm người đàn bà vô học này, nhưng kìm lại được, mình hỏi bạn đã đến Việt Nam chưa? Tất nhiên là chưa rồi, nên mình thêm một bài – rằng thì là chưa biết, chưa đến thì đừng giới thiệu về một quốc gia khác cho bạn bè quốc tế như vậy. Nếu giả sử tôi kể Trung Quốc là cái nước nổi tiếng xấu tính, lũ con gái rặt một lứa thực dụng, lấy chồng vì tiền với một ông không mang quốc tịch Trung hay Việt, bà thấy như nào? Vui chứ?

Hiện tại, chỉ có mình mình là người nước ngoài ở công ty, khối dân văn phòng gọi tên tiếng Anh của mình – Cherish, còn anh em bên xưởng sản xuất gọi với tên thân mật Tiểu Vũ. Công ty hay đi chơi cùng nhau nhân các dịp sinh nhật nhân viên, cuối tuần mấy cô bạn cùng phòng rủ nhau đi mua sắm, spa gì đó. Dù vốn tiếng Anh của họ chưa đủ lắm, nhưng vẫn nhiệt tình Google translate giúp đỡ, khá đáng yêu và khiến mình có những cái nhìn thiện cảm hơn về Trung Quốc. Họ cũng biết thêm được Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, người miền Bắc không ăn cay và người miền Trung có tiếng địa phương nặng như người Hồ Bắc bên này. Rồi Việt Nam có phở ngon như thế nào, công dụng của rau thơm với sức khỏe mà người Trung bỏ qua…

Đây cũng là năm thứ 3 mình quay trở lại Thâm Quyến làm việc, tác phong trong công việc, năng lượng tích cực và sự đóng góp của mình cho công ty đều được đền đáp xứng đáng. Đặc biệt là vốn tiếng Trung được cải thiện vượt bậc, nên hiện tại mình đã giao tiếp khá thành thạo với mọi người trong cả công việc lẫn cuộc sống.

Khi con người ta cởi mở với nhau hơn, mọi khoảng cách về địa lý, văn hóa dường như ngắn lại. Mọi người lại mời mình đi các thành phố khác như Vũ Hán, Đông Quản, Quảng Châu, Giang Tây, Trung Sơn, Vân Nam… trong những dịp nghỉ lễ. Mỗi vùng lại một ngôn ngữ địa phương khác nhau, một đặc sản khác nhau, nhưng có đi mới thấy mình được nhiều hơn là mất. Mỗi lần về Việt Nam mình đều đi du lịch đâu đó, khi bạn bè bên này xem ảnh đều trầm trồ, Việt Nam đẹp thế à, cứ nghĩ đây là nước nào đó ở Châu Âu cơ? Và nhất định rồi, có cơ hội, mình sẽ mời họ về Việt Nam, trải nghiệm cái dải đất hình chữ S nhỏ xinh này.

– Nguồn: spiderum –

o0o

Bạn đang xem bài viết Suy Nghĩ Của Giới Trẻ Trong Nước Về Việt Nam Cộng Hòa trên website Namtranpharma.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!