Xem Nhiều 2/2023 #️ Nọc Ong, Tác Dụng Chữa Bệnh Của Nọc Ong # Top 11 Trend | Namtranpharma.com

Xem Nhiều 2/2023 # Nọc Ong, Tác Dụng Chữa Bệnh Của Nọc Ong # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Nọc Ong, Tác Dụng Chữa Bệnh Của Nọc Ong mới nhất trên website Namtranpharma.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nọc ong là gì?

Nọc ong là sản phẩm của nhũng tuyến đặc biệt trong cơ thể con ong, muốn dùng nọc ong trước đây người ta cho con ong đốthay có khi người ta uống con ong, hiện nay người ta lấy nọc ong riêng rồi chế thành thuốc với những dạng khác nhau như nhũ dịch, dầu bôi có nọc ong, thuốc tiêm dưới da, di chuyển ion.

Con ong

(Mô tả, hình ảnh con ong, thu bắt, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý…)

Mô tả

Con ong là loài côn trùng cánh màng, có cơ thể trung bình dài 1 – 1,5cm, đít có nọc, hút mật ở các loài hoa để chế biến thành mật ong. Theo phân loại khoa học, ong mật thuộc chi Apis (chi phổ biến hơn cả) gồm 4 loài chính

Apis cerana Fabricius (ong mật, ong châu á) với 3 giống là Apis cerana indica, A.cerana japonica và A. cerana sinensis.

Apis dorsata (ong khoái)

Apis florea (ong ruồi)

Apis mellifera (ong châu âu) với 3 giống chính là Apis mellifera ligustica, A.mellifera carnica và A.mellifera caucasia.

Theo kinh nghiệm dân gian, ong mật có nhiều loài. Ở miền bắc, có ong muỗi (cơ thể nhỏ) cho mật màu trắng và ong khoái (loại to) cho mật màu vàng. Ở miền nam, vùng rừng U Minh, có ong mật (loại to chiếm đa số) hút mật hoa tràm là chủ yếu, mật có màu vàng; ong ruồi nhỏ hơn, thân mình hơi dẹt, không giống con ong muỗi nuôi ở các tỉnh phía bắc, làm mật từ nhiều loài hoa, mật có màu vàng nâu, chất lượng tốt hơn

Bộ phận dùng làm thuốc:

Nhiều sản phẩm của ong mật được sử dụng phổ biến

– Mật ong: tên thuốc trong y học cổ truyền là bách hoa tinh, bách hoa cao hay phong mật, là mật hoa được ong chế biến và đặc lại. Đó là một chất lỏng sánh có màu trắng đục, vàng nhạt hoặc vàng thẫm, thơm đặc trưng của mùi mật ong, vị ngọt dịu, để lâu thành ngọt đậm, khé cổ, có đường kết tinh ở dưới gọi là châu. Mật ong được dụng là mật ong thiên nhiên nguyên chất, đã được tiêu chuẩn hoá để ổn định thành phần của mật và bảo quản được lâu. Một lít mật ong được dụng có trọng lượng trên 1,42 kg, còn một lít mật ong thu mua bình thường chỉ nặng 1,2 – 1,3 kg.

– Sữa ong chúa (sữa chúa, phong nhũ tinh): là chất lỏng, sánh, màu trắng đục đến ngà vàng, có giá trị cao nhất trong tổ ong.

– Sáp ong (phong lạp): có thể chất mềm, hơi trong, mịn bóng như có dầu mỡ, màu vàng là hoàng lạp, màu trắng là bạch lạp, có mùi thơm của mật ong và nhựa thông.

– Keo ong (phong giao): là nhựa cả các loài cây (nhất là các chồi mầm) do con ong nghiền nát luyện với sáp mà thành, có màu nâu hoặc vàng sẫm.

– Nọc ong: là sản phẩm đặc biệt của cơ thể con ong, đó là một chất lỏng rất sánh, không màu.

– Phấn hoa: do con ong đi hút mật mang về với mục đích làm thức ăn nuôi ong con. Đó là những thỏi nhỏ hình thoi, dài 0,6 – 0,8 cm, hai đầu thuôn tù, màu vàng nhạt.

Thu bắt, chế biến

Muốn lấy nọc ong hàng loạt người ta thường kích thíc con ong bằng cách giết chết một con ong, đặt trên một màng mỏng có dòng điện, khi những con ong khác đậu vào bị dòng điện kích thích sẽ đốt màng mỏng. Nọc chảy ra hứng lấy để chế thuốc.

Mô tả dược liệu nọc ong

Tính chất của nọc ong: Nọc ong là một chất lỏng rất sánh, không màu mùi rất đặc biệt na ná như mùi mật ong, vị bỏng đắng. Tỷ trọng 1,131, phản ứng acid. Trong nước có pH 5,5-5,5; trong không khí nọc ong chóng khô, lượng cao khô trong nọc ong chứng 41%. Ở dạng khô nọc ong giữ nguyên tính chất trong thời gian dài, trong dung dịch nước nọc ong bị phá hủy dần dần.

Thành phần hóa học

Thành phần hóa học của nọc ong rất phức tạp. Người ta mới biết trong nọc ong có: anbumin và chất mỡ, các hợp chất hữu xơ có trọng lượng phân tử thấp, các acid amin tự do: xystin, lysin, acginin, glycocol, alanin, methionin, acid glutamic, treonin, leuxin, isoleuxin; các acid nucleic, các acid muravic, ortophotphoric; chất béo và các chất có cấu tạo steroid, tinh dầu. Các men hialuronidase và phospholipase. Chất vô cơ magie đồng.

Tác dụng dược lý của nọc ong

Tác dụng dược lý có quan hệ nhiều đến melitin, làm tan máu, co các cơ trơn và cơ vân, hạ huyết áp, phong bế một đoạn thần kinh trung ương và ngoại vi, tác dụng lên thành các mạch máu, gây viêm tại chỗ.

Men Hialurolidase làm tan các chất căn bản của tổ chức liên kết, thúc đẩy sự lan truyền của nọc độc, ở trong da và đẩy mạnh tác dụng tại chỗ.

Men phospholipase phân hủy lexitin và tạo thành lisoxitin có khả năng dung giải các tế bào và làm dung huyết một cách gián tiếp.

Nhiệt độ cao chỉ làm phá hủy các men của nọc ong, mà không tác dụng với melitin: melitin rất vũng với nhiệt độ và đối với cả acid mạnh nhưng dễ bị phá hủy trong môi trường kiềm mạnh.

Các nhân tố oxi hóa làm giảm tác dụng trong nọc ong, các men dung giả protein, pepsin, trypsin phong bế hoàn toàn nọc ong, phá hủy anbumin của nọc ong chứng tỏ anbumin là chất có tác dụng cơ bản trong nọc ong.

Tác dụng trên cơ thể người.

Nọc ong có tác dụng thay đổi tùy theo liều cao hay thấp, nơi bị đốt và đặc biệt cảm ứng riêng của từng cơ thể. Phụ nữ và trẻ em thường nhạy cảm đối với nọc ong hơn nam giới. Đối với người có tính cảm ứng bình thường ong đốt 1,2 lần chỉ gây phản ứng viêm tại chỗ, đối với người bị ong đốt nhiều lần như những người nuôi ong có thể xuất hiện sức đề kháng cao. Tại chỗ nọc ong thường gây đỏ, sưng, cảm giác đau, xuất hiện đột ngột, có cảm giác như bị bỏng, có thể sốt, nhiệt độ tăng hơn bình thường 2-5%. Với liều cao hơn có thể nằm liệt giường, ngay sau khi bị đốt, nạn nhân thấy chóng mặt, buồn nôn, chảy nước bọt, mồ hôi ra nhiều, rồi nôn mửa, rối loạn đường ruột, bất tỉnh nhân sự, huyết áp hạ xuống, có những dấu hiệu tan các hồng cầu.

Với liều gần đúng tùy theo từng người, nọc ong có tác dụng chữa bệnh, liều độc so với liều điều trị thường gấp hàng chục lần, và liều chết gấp 100 lần liều điều trị. Nọc ong làn dãn động mạch và các mao quản, tăng cường sự thâm nhập của máu đến cơ quan bị thương, làm giảm đau. Đối với hệ thống tuần hoàn, nọ ong nâng cao số lượng hemoglobin, bạch cầu ở địa phương và toàn thân, tốc độ huyết trầm hạ thấp, độ nhớt và độ đông máu nhỏ hơn. Nọc ong kích thíc cơ tim, hạ huyết áp, ảnh hưởng tới dinh dưỡng, đặc biệt làm giảm cholesterol trong máu.

Nọc ong nâng cao sức lực toàn thân và khả năng làm việc làm cho ăn ngủ tốt hơn.

Vị thuốc nọc ong

(Công dụng, liều dùng, quy kinh, tính vị…)

Công dụng và liều dùng

Nọc ong được dùng có hiệu quả trong nhiều bệnh, những bệnh nặng và kéo dài, đôi khi khó chữa như sưng khớp do thấp, bệnh thấp của cơ, sưng khớp truyền nhiễm không đặc hiệu, suyễn, viêm khí quản, nhức đầu, huyết áp cao ở giai đoạn 1 và 2.

Theo đông y, có thể sử dụng nọc ong trong điều trị một số chứng bệnh khá hiệu quả, như u bã đậu (mà không cần phẫu thuật), cai nghiện ma túy, viêm khớp..

Tham khảo

Nọc ong vốn được xem là một loại độc dược, bởi nó có chứa khá nhiều thành phần axit formic. Nếu một người không may bị ong đốt có thể sẽ gặp phải các hiện tượng như sưng tấy, đau buốt… nặng hơn có thể là ngộ độc, dị ứng, thậm chí tử vong… Theo TS Phạm Duệ , Giám đốc TT Chống độc Bệnh viện Bạch Mai, chỉ cần ong đốt 10 mũi trở lên đã rơi vào tình trạng nặng, có thể bị tử vong. Nghiên cứu tại TTCĐ của Bệnh viện Bạch Mai cho thấy, ong đốt có thể gây bệnh cảnh nguy hiểm, trong đó gây sốc phản vệ. Đây là phản ứng rất mạnh của cơ thể. Vì vậy, có thể chỉ 1-2 nốt ong đốt cũng dẫn đến tử vong. Đặc biệt, nếu bị ong đốt vào các vùng hiểm như vùng họng có thể gây phù vòm họng, khó thở thanh quản cấp dẫn đến tử vong nhanh. Thông thường với trên 10 nốt ong đốt, bệnh nhân đã có thể bị nhiễm độc nặng (bị tan máu, vàng da, Thiếu máu cấp, tiêu cơ vân dẫn đến suy thận cấp).

Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy tác dụng chữa bệnh của nọc ong như dùng làm các dạng cao xoa giảm đau, chống viêm, cho ong đốt trực tiếp vào các huyệt tương ứng trên cơ thể… Việc ứng dụng cách chữa bệnh bằng nọc ong này từng được tiến hành ở một số quốc gia trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam . Song ở Việt Nam, phương pháp này hiện vẫn chưa được phổ biến rộng rãi.

Hiệu quả chữa bệnh của nọc ong vẫn còn bí ẩn. Hiện nay, các nhà nghiên cứu ở Hàn Quốc đã làm rõ cơ chế chống viêm mellittin, đó là peptit chủ yếu trong nọc ong. Lúc đầu, các nhà nghiên cứu đã xem xét tác động chống viêm khớp của nọc ong trên chuột. Họ đã phát hiện rằng chỉ cần dùng một lượng thấp nọc ong cũng đủ làm giảm mạnh sự sưng tấy mô và hình thành gai xương, có nghĩa là hiệu quả chống viêm khớp của nọc ong là do các tính chất chống viêm của nó.

Sau đó, các nhà nghiên cứu xem xét hiệu quả chống viêm của melittin trong tế bào hoạt dịch của các bệnh nhân mắc bệnh tê thấp. Họ phát hiện ra rằng melittin ngăn chặn sự phát triển của các gen gây viêm, như COX-2, do đó làm giảm sự viêm nhiễm.

Các nhà nghiên cứu cho rằng melittin tác động lên hệ số kappa B (NF-kB), yếu tố sao chép mà người ta cho rằng có thể kiểm soát được các gen này. Trong khi NF-kB có thể được kích hoạt bởi các kích thích viêm và kích thích bệnh lý khác thì melittin ngăn chặn các hoạt động sao chép và liên kết DNA, tạo ra tác động đối với gen gây viêm như trên.

Kết quả một cuộc thí nghiệm đăng trên tờ Tạp chí Y học của Anh số ra mới đây cho thấy nọc ong còn có thể ngăn chặn và làm giảm quá trình phát triển của tế bào ung thư.

Ở Việt Nam , trong bốn năm (1966-1970), GS Nguyễn Năng An thực hiện cùng nhóm cộng sự đề tài “Nghiên cứu nọc ong trên thực nghiệm”. Ong là ong nuôi, giống Apisarthron của Ðức, chọn loại ong thợ 15-40 ngày tuổi, khỏe mạnh, không có bệnh. Lấy nọc ong và chế phẩm nọc ong để tiêm tĩnh mạch chó, thỏ, chuột lang, chuột nhắt, chuột cống trắng, ếch. Ðề tài thứ hai, “Thủy châm chữa một số bệnh bằng sản phẩm ong” hợp tác cùng GS Nguyễn Tài Thu tại Trạm E, Sở Y tế Hà Nội.

Tùy loại bệnh và người bệnh qua thăm khám, xét nghiệm chặt chẽ, các tác giả đề tài dùng hỗn hợp liều lượng nhất định đơn vị ong (Apitoxin: Unité d’ apitoxine theo Ioirich, 1ml = 5 đơn vị) với novocain hoặc vitamin C phối hợp novocain để thủy châm trên các huyệt chỉ định thuộc kinh mạch – không phải đau đâu châm đó). 156 người bệnh được chữa trong 4 năm. Kết quả làm cho bệnh nhân Thấp khớp đỡ đau, đỡ sưng nhiều; bệnh hen ít lên cơn, hạ cơn, hoặc cơn nhẹ; thần kinh ngoại biên đã bị tê đau liệt có thể hồi phục công năng; huyết áp không dao động; người bệnh đỡ đau đầu, ngủ tốt… (nguồn: tạp chí Dược Học, số 3-1970).

Trong các nghiên cứu trên, các nhà nghiên cứu lấy nọc ong có khống chế liều lượng và phối hợp với Novocain để thủy châm chứ không dùng ong thợ “châm chích”. Việc cho ong “châm” vào các huyệt giúp giảm đau và chữa đau khớp hiện nay vẫn chưa có xác nhận rõ ràng của Bộ Y tế, do đó bệnh nhân cần phải cân nhắc kỹ trước khi lựa chọn phương pháp điều trị mạo hiểm này cho mình.

Kiêng kị

Tuy nhiên nọc ong không dùng được đối với bệnh lao, bệnh gan và tuyến tụy tạng, bệnh nhân kèm đái ra máu, bệnh tuyến thượng thận, suy nhược toàn thân, bệnh máu và các tổ chức tạo máu với khuynh hướng làm chảy máu. Phụ nữ có thai không điều trị bằng nọc ong. Có người dùng tiêm nọc ong phối hợp với châm cứu.

Nơi mua bán vị thuốc Nọc ong đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc Nọc ong ở đâu?

Nọc ong là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao. Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc Nọc ong được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc Nọc ong tại Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn:

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám: Cơ sở 1: Số 482, lô 22C, Lê Hồng Phong, Ngô Quyền, Hải Phòng

+ Mua trực tuyến: Thuốc được chuyển qua đường bưu điện. Khi nhận được thuốc khách hàng thanh toán tiền COD.

Tag: cay noc ong , vi thuoc noc ong , cong dung noc ong , Hinh anh cay noc ong , Tac dung noc ong , Thuoc nam

Thaythuoccuaban.com Tổng hợp

*************************

Đừng “Thần Thánh Tác Dụng Của Đậu Bắp Với Bệnh Xương Khớp

Với tâm lý ăn gì bổ đó, không ít người nghĩ rằng ăn đậu bắp nhiều chất nhầy sẽ có tác dụng làm tăng nhớt trong khớp, giúp xương khớp hoạt động trơn tru, giảm tình trạng khô cứng khớp, vậy điều đó có đúng không?

Những người bị thoái hóa khớp, khi cử động thường bị đau nhức, kèm theo tiếng kêu lạo xạo, răng rắc. Với những biểu hiện như vậy nên người bệnh thường cho rằng khớp bị khô nhớt và mang tâm lý ăn gì bổ đó. Vì vậy, tác dụng của đậu bắp với xương khớp được nhiều người lý giải rằng, đậu bắp có nhiều nhớt sẽ bổ sung chất nhờn cho các khớp, giúp khớp hoạt động trơn tru, giảm tình trạng khô cứng.

Đậu bắp có tác dụng tăng dịch khớp như nhiều người nghĩ?

Việc hiểu đúng về tác dụng của đậu bắp rất có ý nghĩa trong việc chăm sóc sức khỏe nói chung và hệ xương khớp nói riêng, đặc biệt là bệnh thoái hóa khớp.

Tác dụng của đậu bắp với sức khỏe

Đậu bắp hay còn gọi là mướp tây, bông vàng, bắp chà hay thảo cà phê giàu giá trị dinh dưỡng (chất xơ, vitamin A, C, K, acid folic…), rất có lợi cho sức khỏe.

Tốt cho hệ tiêu hóa

Với hàm lượng chất xơ cao, đậu bắp giúp quá trình tiêu hóa thức ăn diễn ra thuận lợi, dễ dàng hơn, hạn chế táo bón và tốt cho những người bị hội chứng ruột kích thích hay rối loạn tiêu hóa.

Kiểm soát cholesterol

Các pectin (chất nhầy) có trong đậu bắp bản chất là một loại chất xơ hoạt động như một chất làm giảm lượng cholesterol xấu trong máu, rất tốt cho những người bị tim mạch, huyết áp.

Món ăn từ đậu bắp ít calories, kiểm soát cholesterone, giảm đường huyết

Ổn định đường huyết

Hàm lượng chất xơ và chất nhầy trong đậu bắp giúp điều chỉnh lượng đường huyết bằng cách làm chậm tốc độ hấp thu đường từ ruột non, thân thiện với người bệnh tiểu đường.

Tăng cường hệ miễn dịch

Đậu bắp rất giàu vitamin C giúp tăng sức đề kháng của cơ thể, kết hợp với chất xơ nuôi dưỡng các vi khuẩn có lợi trong đường ruột, nhờ đó xây dựng khả năng miễn dịch của cơ thể, chống lại virus, vi khuẩn và nhiễm trùng hiệu quả.

Tốt cho da và mắt

Vitamin A và C có trong đậu bắp là những chất dinh dưỡng cần thiết, có lợi cho đôi mắt và lan da.

Hỗ trợ xương chắc khỏe

Nhờ chứa vitamin K và acid folic, đậu bắp được xem là thực phẩm có lợi cho xương, góp phần làm giảm tình trạng mất xương và loãng xương.

Đậu bắp không có tác dụng chuyên biệt với bệnh xương khớp

Các bệnh lý về xương khớp, đặc biệt thoái hóa khớp bắt nguồn từ sự tổn thương đồng thời của sụn khớp và xương dưới sụn. Giải thích về cơ chế này, chúng tôi Nguyễn Việt Tiến (Trưởng khoa Chấn Thương Chỉnh Hình – Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh) cho biết:

Xương dưới sụn bị hư tổn khiến lớp sụn mất đi vùng tựa chịu lực và một nguồn cung cấp dinh dưỡng. Đồng thời, sụn thoái hóa với các vết loét và nứt gãy, cũng lại là yếu tố làm hủy hoại xương dưới sụn.

Vòng xoáy bệnh lý này khiến cho quá trình thoái hóa khớp xảy ra nhanh và trầm trọng hơn. Do đó, việc ngăn chặn sự hủy hoại của hai thành phần này chính là giúp chặn quá trình thoái hóa khớp.

Tổn thương sụn và xương dưới sụn trong bệnh lý thoái hóa khớp

Tóm lại, chất nhầy trong đậu bắp (tương tự như chất nhầy có trong rau mồng tơi, rau đay, ốc sên…) không phải là nguyên liệu để xương khớp tổng hợp lượng dịch nhầy tự nhiên giúp bôi trơn bề mặt sụn như nhiều người lầm tưởng. Nên việc ăn các thực phẩm có nhiều chất nhầy như đậu bắp không giúp ích gì cho việc tái tạo sụn khớp và phục hồi tổn thương xương dưới sụn.

Vậy nên, để chăm sóc sức khỏe xương khớp, đặc biệt ở những người mắc bệnh thoái hóa khớp, cần ăn uống đa dạng, đủ chất để đảm bảo cơ thể được cung cấp các vitamin cần thiết như hoa quả, rau xanh chứa nhiều vitamin C, D; ăn nhiều cá, dầu hạt (óc chó, đay, oliu) có nhiều omega 3 và khoáng chất như can-xi có trong sữa, phô mai, rau trái xanh đậm màu… sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh góp phần tự sửa chữa những tổn thương trong khớp. Đồng thời, bổ sung các sản phẩm đã được khoa học chứng minh có tác dụng giảm đau, tái tạo sụn khớp và xương dưới sụn như tinh chất PEPTAN (có trong JEX MAX). Một khi sụn khớp và xương dưới sụn được phục hồi, khỏe mạnh sẽ giúp kéo dài tuổi thọ hệ xương khớp, làm chậm quá trình thoái hóa khớp, giúp người bệnh cải thiện các vận động co duỗi, đi lại và giảm thiểu các cơn đau khớp khi về đêm hoặc gần sáng.

Cẩm Lai

Tác Dụng Cũng Như Tác Hại Của Cây Rau Má Bạn Nên Biết Trước Khi Sử Dụng

Làm lành vết thươngRau má có chứa hóa chất được gọi là triterpenoidscó công dụng tăng tốc độ chữa lành vết thương, tăng cường chất chống oxy hóa tại vị trí vết thương, tăng cường da và tăng cung cấp máu cho khu vực bị thương.

Một nghiên cứu năm 2006 đã kiểm tra tác động của rau má vào vết thương ở chuột. Các nghiên cứu cho thấy rằng các vết thương được điều trị với nước chiết xuất từ lá rau má lá có thể chữa lành nhanh hơn đáng kể hơn so với các vết thương không được điều trị bằng chiết xuất này. Mặc dù thử nghiệm trên người chưa được thực hiện đầy đủ nhưng bằng chứng này xuất hiện có thể xác nhận việc sử dụng loại thảo dược rau má như là một thảo dược có tá dụng chữa lành vết thương.

Triterpenoids trong rau má cũng có thể làm giảm sự lo lắng và tăng cường chức năng tâm thần trong một số cá nhân. Ngoài ra, trong dân gian các thầy lang đã dùng rau má để điều trị cho các bệnh như , eczema, nhiễm trùng hô hấp, viêm loét, cảm lạnh, viêm gan, động kinh, mệt mỏi, sốt, hen suyễn và bệnh giang mai… Đồng thời, rau má còn có tác dụng trong việc điều trị chứng mất ngủ, xơ cứng bì, ung thư, rối loạn tuần hoàn, tăng huyết áp, mất trí nhớ, liền sẹo và giảm nốt cục trên da cellulite.

Lá rau má sấy khô tán bột, uống chung với sữa mỗi ngày 3-5 gam sẽ có tác dụng tốt cho những người mắc bệnh suy giảm trí nhớ và thị lực.

Khi trẻ bị sốt có thể dùng rau má, rửa sạch, vò nát, đổ xâm xấp nước, đun sôi nhỏ lửa khoảng 15 phút rồi chắt ra cốc lớn. Cứ khoảng một tiếng cho trẻ uống vài thìa. Trẻ sẽ giảm sốt.

Hoạt chất Asiaticosid trong rau má tác động lên một số tế bào biểu bì, kích thích sự sừng hoá và tác dụng đến sự phân chia tế bào làm lành nhanh vết thương ngoài da.

Ngoài ra, những chất chống oxy hoá, khoáng chất trong rau má có thể làm chậm sự lão hoá làn da, thúc đẩy quá trình tái tạo tế bào da làm cho da căng đầy sức sống và bề mặt da săn chắc hơn, cải thiện vi tuần hoàn và chữa những chứng bệnh ngoài da thường gặp.

Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy uống thuốc hay nước rau má nhiều quá có thể bị nhức đầu, thậm chí mất ý thức thoáng qua… Bên cạnh đó, vì rau má có tính hàn nên nếu đang bị đầy bụng, tiêu chảy phải cẩn thận khi dùng, nên ăn kèm với vài lát gừng cho ấm bụng và trung hòa tính hàn của rau.

Rau má là loại rau có tính hàn, có công dụng giải nhiệt. Nhưng đồng thời, sử dụng nhiều cũng dễ gây ra đầy bụng và tiêu chảy. Đặc biệt với người có thân nhiệt thấp và hay lạnh bụng thì càng dễ tiêu chảy. Do đó, khi sử dụng rau má, bạn nên ăn thêm một lát gừng để làm ấm bụng và trung hòa tính hàn của rau má.

Phụ nữ nếu dùng rau má lâu ngày có thể làm giảm khả năng mang thai. Loại rau này cũng gây nguy cơ sảy thai nếu sử dụng trong thai kì.

Vì thế, phụ nữ đang trong thời kỳ sinh nở và phụ nữ có thai không nên dùng nhiều loại rau này.

Rau má làm tăng lượng cholesterol và lượng đường trong máu, vì vậy những người có cholesterol cao và nên tránh lạm dụng sử dụng rau má quá nhiều.

Không chỉ vậy, đối với người đang có 2 bệnh trên, dùng rau má cùng với uống thuốc điều trị có thể làm giảm hiệu quả của insulin và thuốc tiểu đường uống khác, cũng như các thuốc hạ cholesterol.

Rau má có thể tương tác với các thuốc gây buồn ngủ và , barbiturat, benzodiazepin, thuốc mất ngủ, và các … Nó cũng có thể làm giảm hiệu quả của insulin và thuốc tiểu đường uống khác, cũng như các thuốc hạ cholesterol.

Một số bài thuốc từ rau má

Chữa mụn nhọt: Rau má 50g, lá gấc 50g. Cách dùng: Rửa cả hai thứ thật sạch, giã nhỏ, cho ít muối vào trộn đều, đắp lên chỗ đau rồi băng lại. Ngày thay thuốc hai lần. Đắp đến khi khỏi.

Chữa vàng da, vàng mắt: Rau má 50g, lá ngải cứu 50g. Đem hai thứ rửa sạch, đun nước uống hàng ngày.

Chữa kiết lỵ: Bài 1 (rau má 150g, muối ăn 10g). Rửa rau má thật sạch, để ráo nước, cho vào cối sạch, bỏ muối vào, giã thật nhỏ, sau chế thêm một bát nước sôi, quấy đều, để lắng, gạn lấy nước trong uống. Người lớn uống cả một lần, trẻ em tuỳ theo tuổi mà giảm liều lượng. Khi uống thuốc nên ăn cháo, kiêng các thứ khó tiêu, kiêng mỡ, các thức ăn tanh, cay, nóng; Bài 2, rau má, rễ cây ngải cứu, rễ cỏ may, rễ mơ lông, liều lượng bốn vị bằng nhau (khoảng 100g), sao vàng, hạ thổ, sắc uống ngày hai lần cho tới khi khỏi.

Chữa chảy máu cam: Rau má giã nhỏ, vắt lấy nước, uống mỗi ngày 2 – 3 lần trong 5 ngày liền.

Chữa sốt xuất huyết nhẹ tại nhà: Rau má 30g, cỏ nhọ nồi 30g, lá và bông mã đề 20g (hay lá cối xay, rễ cỏ tranh). Đem các vị rửa sạch, giã nhỏ, cho nước sôi vào vắt lấy nước uống, hoặc sắc uống.Rôm sẩy không chỉ gây ngứa ngáy khó chịu mà còn có thể gây biến chứng viêm cầu thận, nhiễm trùng lan rộng rất nguy hiểm. Đông y có vài bài thuốc trị rôm sảy mang lại kết quả tốt.

Tác Dụng Của Cà Phê: Tốt Hay Xấu ?

Tác dụng của cà phê: Tốt hay xấu ?

Bạn có thể mua bất kỳ lúc nào và mua bao nhiêu cũng được. Cà phê là 1 chất kích thích. Tuy nhiên, một số thông tin gần đây lại cho biết những luận điểm trái ngược nhau về tác động của loại thức uống nầy. Có người nói uống cà phê nhiều làm giảm nguy cơ các loại bệnh tim mạch, tiểu đường, mất trí nhớ. Người khác lại cho rằng cà phê làm tăng áp huyết, đường huyết thậm chí còn gây vô sinh. Đâu là sự thật?

Thêm giọt đắng thêm nguồn tận hưởng!

Thật thú vị khi cùng ngồi với vài người bạn thân bên ly cà phê bốc khói vào những buổi sáng sớm. Hương thơm, vị đắng và sự ấm áp của cà phê nóng kích thích những đầu dây thần kinh từ đầu lưỡi đến dạ dày nhanh chóng lan toả cảm giác sảng khoái toàn khắp cơ thể. Nhấm nháp từng ngụm cà phê, lần giở từng trang báo mới vào mỗi buổi sáng cũng là thú vui quen thuộc của nhiều người trung niên.

Đối với một số bạn trẻ, đến một quán cà phê quen nhìn từng giọt cà phê rơi, lắng nghe tiếng nhạc, thỉnh thoảng liếc nhìn cô hàng cà phê xinh xinh vào mỗi cuối tuần cũng là một thú tiêu khiển để thư giãn sau 1 tuần làm việc căng thẳng.

Có nhiều loại cà phê khác nhau, cà phê Arabica hay Robusta, cà phê Bắc Mỹ hay cà phê Việt nam. . . Công thức chế biến từ nhà máy hoặc pha chế ở mỗi quán hoặc mỗi người cũng khác nhau, cà phê phin, cà phê vợt, cà phê espresso, cappucino. . .

Đến cách uống cũng khác nhau, cà phê nguyên chất hay có thêm đường, sữa; cà phê tan liền hay cà phê lọc. Đối với nhiều người trên thế giới, uống cà phê là 1 cách hưởng thụ trong cuộc sống, mỗi người lại có một cái “gu” cà phê khác nhau, nên thường nói là thưởng thức cà phê mà không chỉ là uống cà phê.

Caffeine là hoạt chất chủ yếu trong những ly cà phê được uống hàng ngày. Hạt cà phê là nguồn cung cấp chánh chất nầy. Caffeine cũng có trong trà, ca cao, kẹo chocolate, một số nước uống, nước tăng lực và nhiều loại tân dược. Tuỳ theo loại và cách pha chế, mỗi ly cà phê có từ 100 đến 170mg caffeine, 1 ly trà có khoảng 50mg, 1 thỏi chocalate 200g có từ 20 đến 60mg caffeine, 1 lon coca 250cc khoảng 35mg caffeine, 1 lon red bull khoảng 80mg.

Chẳng lạ khi nhiều tàí xế cho biết những loại “nước uống tăng lực” là bí quyết để chống buồn ngủ khi phải lái xe trên đường dài!

Hệ thần kinh trung ương rất nhạy cảm với cà phê. Liều từ 100 đến 200mg gây hưng phấn thần kinh giúp suy nghỉ linh hoạt, kích thích tuần hoàn và hô hấp. Tuy nhiên với liều cao hơn, 4 hay 5 ly cà phê trong 1 buổi có thể gây buồn nôn, căng thẳng, hồi hộp, tim đập dồn dập, mất ngủ. Tuỳ theo người, những triệu chứng này có thể kéo dài từ 4 đến 8 giờ sau đó.

Trong dược khoa, caffeine là 1 loại thuốc có tác dụng kích thích tuần hoàn và hô hấp, lợi tiểu nhẹ, có thể dùng để trợ tim hoặc giúp dễ thở. Caffeine cũng thường được phối hợp dùng trong nhiều loại thuốc trị cảm sốt như Excedrin, Midol, Anacin để làm giảm đau, giảm mệt mỏi.

Cà phê có hàm lượng cao chất chống oxy hoá.

Giống như nhiều loại hạt thô khác, hạt cà phê có hàm lượng cao những hợp chất polyphenols là những chất chống oxy hoá. Quá trình rang cà phê làm gia tăng tỷ lệ nầy. Theo 1 nghiên cứu của trường Đại học Scranton, Pennsylvania, tỷ lệ chất chống oxy hoá trong hạt cà phê còn cao hơn so với một số thực vật khác như táo, cà chua, cranberries.

Giáo sư Joe Vinson, người dẫn đầu nhóm nghiên cứu, cũng cho biết cà phê đã rút bớt chất caffeine hay cà phê thường đều có lượng chất chống oxy hoá như nhau. Theo ông, tính trung bình, người Mỹ hiện nay đang hấp thu lượng chất chống oxy hoá từ cà phê dùng hàng ngày nhiều hơn so với bất cứ loại thực phẩm nào khác!. Chất chống oxy hoá giúp trung hoà những gốc tự do để ngăn chận quá trình hư hại tế bào và DNA trong các loại bệnh tim mạch, ung thư và quá trình lão hoá.

Tuy nhiên, ông cũng khuyến cáo nghiên cứu của ông không xác định uống cà phê có lợi cho sức khoẻ vì cơ thể không thể hấp thu hết được lượng chất chống oxy hoá trong cà phê chưa kể đến tác dụng kích thích của loại thức uống nầy. Bù lại, ông khuyên mọi người nên ăn nhiều rau quả và các loại hạt thô để bảo đảm được nhu cầu chất chống oxy hoá cần thiết.

Cà phê có giúp giảm stress?

Do tác dụng kích thích thần kinh, cà phê làm tăng tiết những hormon stress như adrenalin, cortisol nên có thể tăng cường khả năng “chống trả hoặc bỏ chạy” giúp ta năng động, linh hoạt và thêm công suất cơ bắp để làm giảm tạm thời sự mệt mỏi.

Cà phê có thể giúp giải toả sự buồn tẻ và cả buồn ngủ của những công việc đơn điệu như lái xe, canh gát, trông trẻ, chăm sóc người ốm. Tuy nhiên khi được sử dụng nhiều, những kích hoạt liên tục sẽ gây ra nhiều phản ứng độc hại. Do sự quen thuốc, lượng thức uống mà cơ thể cần sẽ càng cao. Với liều lớn hoặc dùng lâu dài sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng rối loạn tâm lý có thể dẫn đến suy giảm hệ miễn dịch, tăng đáp ứng viêm và ảnh hưởng xấu đến nhiều hoạt động chức năng của các cơ quan.

Như vậy, uống 1 ly cà phê lúc sáng sớm để tạo sự hưng phấn trước khi bắt đầu 1 ngày làm việc hoặc uống trước khi vận động là tốt nhưng dùng nhiều hơn hoặc dùng vào buổi chiều là không nên. Sự mệt mỏi và căng thẳng gây ra do làm việc quả tải, quá giờ cần phải được cần phải được bố trí nghỉ ngơi và thư giãn hợp lý hơn là cố duy trì bằng những chất kích thích.

Cà phê và bệnh tim mạch, tiểu đường.

Nghiên cứu của trường Đại học Oklahoma đã cho biết uống từ 4 đến 5 ly cà phê mỗi ngày có thể làm tăng huyết áp ở những người có nguy cơ cao. Một khảo sát khác trước đó cũng cho biết những người thường dùng trên 1 ly cà phê mỗi ngày tăng gấp đôi nguy cơ bệnh tim và đột quỵ so với người không dùng cà phê (U.S. Pharmacist 14,6:28).

Nói chung, cà phê có thể tạm thời gia tăng những đáp ứng stress, tăng nhịp tim, tăng áp huyết. Đối với người khoẻ mạnh, các chỉ số sẽ trở lại bình thường. Tuy nhiên, đối với người có nguy cơ cao hoặc đang bị cao huyết áp, việc lập đi lập lại nầy dễ dẫn dến bệnh tật.

Đối với bệnh tiểu đường, từng có một nghiên cứu. được phổ biến chính thức trên tờ the Annals of Internal Medicine cho biết uống nhiều cà phê có thể làm giảm nguy cơ bệnh ĐTĐ ở những đối tượng khoẻ mạnh, không mắc bệnh ung thư, tiểu đường, tim mạch. Tuy nhiên, ở những người đái tháo đường (ĐTĐ) loại 2, một nghiên cứu mới nhất của trường Đại học Duke đã xác định loại thức uống nầy có tác dụng làm tăng mức đường huyết sau khi ăn khoảng 8% so với ngày họ không dùng cà phê.

Trên thực tế, hạt cà phê có 1 tỷ lệ nhất định một số chất khoáng như Mg, Ca, K và những hợp chất chống oxy hoá hữu ích. Tuy nhiên, những lợi ích nhỏ và trên cơ sở dài hạn của những vi chất không bù trừ nổi với những cái hại lớn hơn và đôi khi tức thì của caffeine trong cà phê. Do đó có thể nói những hợp chất chống oxy hoá trong hạt cà phê có tác dụng tốt cho việc phòng ngừa ung thư, tim mạch hoặc tiểu đường nhưng không thể nói uống nhiều cà phê giúp phòng ngừa những căn bệnh nầy.

Cà phê giúp chữa mất trí nhớ?

Đặc biệt, mới đây một nghiên cứu của các nhà khoa học trường Đại học Nam Florida đã cho thấy cà phê có khả năng cải thiện đáng kể những triệu chứng của bệnh Alkzheimer’s, loại bệnh mất trí nhớ hay xảy ra ở người già. Nghiên cứu trên những con chuột thí nghiệm được chuyển đổi gen để gây ra bệnh Alkzheimer’s đã cho thấy liều tương đương với 5 cốc cà phê mỗi ngày trong thời gian 2 tháng làm giảm đáng kể các triệu chứng của căn bệnh nầy.

Khảo sát cho biết chuột bệnh không chỉ đã đáp ứng tốt hơn với những trắc nghiệm về trí nhớ, sự suy nghỉ mà còn giảm đến 50% những mãng bám beta myloid, loại protein đặc trưng thường xuất hiện và phá huỷ tế bào thần kinh trong não người bệnh.

Trước đó, một nghiên cứu phối hợp của các nhà khoa học trường Đại học Kuopio, Phần Lan, Viện Karolinski ở Stockholm, Thuỵ Điển và Viện Sức Khoẻ Quốc Gia Phần Lan cũng cho biết những người trung niên thường dùng cà phê với lượng “trung bình” từ 3 đến 5 ly mỗi ngày có thể làm giảm nguy cơ bị bệnh suy giảm trí nhớ ở tuổi già.

Điều dễ nhận thấy trong cả 2 nghiên cứu trên là lượng cà phê đủ để tạo ra tác dụng ngăn chận suy giảm trí nhớ vẫn được xem là quá cao nên không thể chấp nhận được đối với các đối tượng có thần kinh dễ bị kích thích, cao huyết áp, mất ngủ.

Có nghiên cứu cho biết phụ nữ dùng trên 300mg coffeine mỗi ngày giảm phân nửa khả năng thụ thai so với người không dùng cà phê. Đối với các sản phụ, dùng đến 4 hay 5 ly cà phê mỗi ngày có thể gia tăng nguy cơ sẩy thai. Do đó, cơ quan kiểm soát thực phẩm Anh quốc khuyên phụ nữ không nên dùng quá 200mg coffeine mỗi ngày.

Ngoài ra, dùng nhiều cà phê làm tăng tính acid trong cơ thể, tăng khả năng bị stress, làm giảm sự hấp thu một số chất khoáng như sắt, Ca, K, Mg và làm hao hụt nhiều sinh tố như các sinh tố nhóm B, sinh tố C nên không có lợi cho sản phụ và sự phát triển của thai nhi. Tuy nhiên, bạn có thể an tâm nếu chỉ dùng 1 hoặc 2 ly cà phê mỗi ngày.

Cà phê là một chất kích thích nên có thể gây nghiện là điều dễ hiểu. Ở những người chỉ dùng 1 ly cà phê mỗi ngày vào những thời điểm nhất định. Khi đến “cử” đó mà không có cà phê, không chỉ là nhớ nhớ mà bạn sẽ dễ cảm thấy uể oải, ngáy dài ngáp vắn. Tuy nhiên, chỉ như vậy vẫn không xem là nghiện. Nghiện cà phê là hội chứng bệnh lý ở những người có sự lệ thuộc vào cà phê để giữ được sự bén nhạy bình thường về tâm lý khiến phải dùng cà phê hàng ngày với khuynh hướng gia tăng liều lượng. Hội chứng nầy có thể bao gồm hàng loạt những rối loạn như căng thẳng, lo sợ, tim đập nhanh, mệt mõi, mất ngủ, bất lực, rối loạn kinh nguyết, cao huyết áp, loét dạ dày. . .

Chưa kể đến lượng đường hoặc những hoá chất hương liệu kèm theo cà phê, việc dùng thường xuyên với liều cao chất kích thích nầy sẽ gây nhiều tác hại. Trong quyển Staying Healthy with Nutrition, Tiến sĩ Elson Haas khuyên những đối tượng nầy nên tìm cách giảm dần lượng cà phê dùng hàng ngày bằng cách uống thêm nhiều nước cốt rau quả và năng vận động. Những biện pháp nầy vừa giúp giải độc, tăng tính kiềm trong cơ thể lại có thể giúp người bệnh dễ vượt qua các triệu chứng khó chịu của cơn nghiện.

Nói chung, cà phê là một thức uống phổ thông, ưa dùng. Do đó, không nhất thiết phải kiêng cử hẳn. Tuy nhiên không nên uống quá 2 ly cà phê mỗi ngày. Có thể uống lúc sáng sớm hoặc uống trước khi tập thể dục. Không nên uống liền trước khi vào phòng thi hoặc đi phỏng vấn. Không nên uống liền sau khi ăn để không ảnh hưởng xấu đến sự tiêu hoá. Không uống sau 2 giờ chiều để tránh làm rối loạn giấc ngủ. Những người dễ bị căng thẳng, phụ nữ ở giai đoạn tiền mãn kinh, người cao huyết áp, đái tháo đường nên chọn dùng loại cà phê đã rút bỏ caffeine. NOC – Độc quyền cung cấp cá kho Trần Luận tại Hà Nội.

Bạn đang xem bài viết Nọc Ong, Tác Dụng Chữa Bệnh Của Nọc Ong trên website Namtranpharma.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!