Xem Nhiều 1/2023 #️ Nếu Việt Nam Cộng Hòa Còn Tồn Tại # Top 6 Trend | Namtranpharma.com

Xem Nhiều 1/2023 # Nếu Việt Nam Cộng Hòa Còn Tồn Tại # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Nếu Việt Nam Cộng Hòa Còn Tồn Tại mới nhất trên website Namtranpharma.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nhiều người nghĩ rằng nếu Việt Nam Cộng hòa vẫn còn tồn tại thì chúng ta sẽ có 1 quốc gia tuyệt vời và mọi vấn đề sẽ được giải quyết. Liệu mọi việc có đơn giản như vậy?

“Tự do mang đến nhiều khó khăn và dân chủ không phải là hoàn hảo…”

Việt Nam Cộng hòa sẽ vẫn là quốc gia có rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Đó là điều chắc chắn. Nếu không tin hãy nhìn những cường quốc 5 châu mà Việt Nam của Hồ Chí Minh mong có 1 ngày được sát cánh thì rõ.

Mỹ – Cường quốc số 1 thế giới có lúc nào không phải đau đầu để giải quyết các vấn đề quốc nội và quốc tế? Trong nước là tình trạng chênh lệch giàu nghèo, vấn đề kiểm soát súng đạn, “chính phủ hoạt động kém hiệu quả”… và trên hết bị đánh giá là “quốc gia không tiến bộ”.

Châu Âu còn nan giải hơn nữa, đó là suy thoái kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp cao… Cả Châu Âu và Mỹ đều chia sẻ vấn đề nhập cư bất hợp pháp và khủng bố Hồi giáo.

Nhật Bản thì là thiếu hụt lao động, tỷ lệ tăng lương chậm, các vụ bê bối công nghiệp và khối nợ khổng lồ của chính phủ, đặc biệt là già hóa dân số. Báo Việt Nam đưa tin về cuộc sống của người già ở Nhật không khác gì địa ngục, họ phải đi ăn cắp để được vào tù. Người vì ở bên ngoài phải sống chật vật với trợ cấp xã hội, đi tù để không phải lo lắng tài chính; người vì thiếu sự quan tâm nên cố vào tù để được chăm sóc. Nhà tù Nhật vì thế đối diện với khó khăn mới: ban ngày phải thuê điều dưỡng viên để phục vụ đi vệ sinh, tắm rửa; ban tối nhân viên nhà tù phải làm cả công việc của điều dưỡng viên. Chi phí cho nhà tù vì thế tăng vọt.

Một ví dụ rõ ràng nhất là Hàn Quốc – Một đất nước với thể chế chính trị y chang Việt Nam Cộng hòa cũng có bao giờ yên ổn. Tổng thống Nam Triều Tiên khi thì bị ám sát, khi thì tự sát vì bị điều tra tham nhũng, mới đây còn bị bắt đi tù.

Các nước giàu nói chung và Hàn Quốc nói riêng không phải là thiên đường, họ cũng gặp khó khăn trong mọi lĩnh vực. Bóng đá Hàn Quốc mạnh nhất nhì châu Á, nhưng sau vòng chung kết U23 Châu Á vừa rồi, huấn luyện viên Kim Bong-gil bị sa thải vì chỉ đưa đội bóng lọt vào đến bán kết.

Thế nên chẳng có gì lạ cả khi Việt Nam Cộng hòa nếu còn đang tồn tại cũng sẽ đầy rẫy những vấn đề xã hội. Lúc còn là “Hòn ngọc Viễn Đông”, là niềm mơ ước của Singapore, có bao giờ người Việt Nam Cộng hòa cảm thấy thỏa mãn với đất nước của mình?

Tổng thống Ngô Đình Diệm vẫn bị chỉ trích để rồi bị lật đổ. Sau đấy là Nguyễn Văn Thiệu, Dương Văn Minh, có ông nào được ngợi ca?

Nhưng đó có phải là tất cả?

Các quốc gia đều có vấn đề cả đấy, nhưng không giống nhau!

Nhìn việc Huấn luyện viên U23 Hàn Quốc bị sa thải mà nghĩ rằng họ đang gặp vấn đề thì lầm to! Họ vào bán kết đã là thất bại vì họ đã quen vô địch hoặc chí ít về nhì. Còn chúng ta chỉ cần thế thôi là đủ đi vào lịch sử, vì có mấy khi làm được? Như vậy bị chỉ trích chưa chắc đã kém, được khen ngợi chắc gì tốt hơn.

Đội bóng đá Việt Nam Cộng hòa trước đây chưa bao giờ coi Thái Lan là đối thủ, nhưng nếu còn tồn tại, đội bóng ấy có thỏa mãn được người dân không? Cũng không nốt, vì khi vô địch Đông Nam Á rồi, nếu không vươn lên tầm châu lục thì cũng chẳng ai hoan nghênh, huấn luyện viên tuyển Việt Nam Cộng hòa vẫn sẽ bị sa thải như thường. Vậy đấy, cùng là khó khăn nhưng không giống nhau.

Tổng thống Nam Triều Tiên từ trước đến nay chẳng ai được ngưỡng mộ, nhưng họ vẫn giàu có văn minh. Còn lãnh tụ của Bắc Triều Tiên từ đời ông đến đời cháu đều được dân tôn sùng, chẳng có ông nào bị bắt vì tham nhũng, thậm chí bị nghi ngờ cũng không. Người dân miền Bắc dù nghèo đói đấy, nhưng hạnh phúc vì được ngắm lãnh tụ. Người dân miền Nam giàu có, nhưng luôn bức xúc với lãnh đạo. Dân cả 2 miền đều khổ cả, nhưng không giống nhau.

Ở Mỹ thỉnh thoảng lại có vụ xả súng, số người chết trong vụ đẫm máu nhất lịch sử nước Mỹ ở Las Vegas là 59 người, nghe thì kinh hãi, nhưng so với trung bình 41 người chết một ngày vì tai nạn giao thông (15.000 người một năm) thì chắc chả là gì. Vụ xả súng kinh hoàng nhất lịch sử bang Texas năm ngoái làm 27 người thiệt mạng, chỉ bằng khoảng một nửa số người ra đi ở Việt Nam chỉ tính riêng việc tham gia di chuyển trên đường hàng ngày như đã nêu trên.

Trong 5 ngày Tết cổ truyền Việt Nam vừa rồi có 155 người chết vì tai nạn giao thông, 2800 ca cấp cứu vì đánh nhau. Chết ở Mỹ gây kinh hoàng, chấn động thế giới; chết ở Việt Nam thì là chuyện thường, không ai biết đến. Ở đâu cũng có người chết, nhưng không giống nhau.

Nhiều người Việt Nam đọc báo viết về cuộc sống của người già ở Nhật Bản, tưởng rằng mình thật may mắn khi được sinh ra ở Việt Nam, họ không nhớ rằng ở Việt Nam làm gì có cái gọi là trợ cấp xã hội để ít nhất duy trì cuộc sống, số người già không có tiền tích lũy ở Nhật cũng không chiếm số đông, và nhà tù ở Việt Nam ngay người trẻ còn không chịu nổi.

Châu Âu đau đầu về vấn đề nhập cư từ Trung Đông, chúng ta thì không, nhưng cũng chẳng có gì để tự hào cả vì làm gì có ai muốn di cư đến Việt Nam.

Việc Sài Gòn có thật sự là “Hòn ngọc Viễn Đông” hay không, có thực là Lý Quang Diệu hâm mộ Việt Nam Cộng hòa hay không, điều đó không quan trọng. Một số người Cộng sản có thể phủ nhận nó, nhưng họ không thể phủ nhận Việt Nam Cộng hòa là một nước khá giả. Ngay báo chí Việt Nam Cộng sản hiện nay thỉnh thoảng vẫn đăng ảnh các thành phố miền Nam trước 1975 sạch đẹp quy củ chứ không bát nháo như bây giờ. Cứ cho là Sài Gòn ngày xưa “nhận vơ” là Hòn ngọc Viễn Đông, nhưng Việt Nam hiện tại cho “nhận vơ” cũng chả dám nhận.

Người Cộng sản nói rằng Sài Gòn là “ổ điếm”, vậy họ không mong được một lần trong đời được du lịch Thái Lan hay Nhật Bản chăng? Chắc chắn chẳng tìm được ai như vậy. Và Việt Nam hiện tại không thể so sánh với những nước này về gần như mọi mặt, may ra có mại dâm thì không kém, chỉ có điều nó không hợp pháp thôi. Người ta hợp pháp nó, nó công khai, nhưng rạch ròi. Còn anh thì giấu giấu giếm giếm nhưng bẩn thỉu, vô đạo đức gấp vạn lần.

Người Việt Cộng sản cho rằng nằm mơ mới có chuyện Việt Nam Cộng hòa bằng được những nước Hàn Quốc, nói vậy khác nào khẳng định rằng người Việt Nam kém cỏi căn bản, dù có cố thế nào, có theo thể chế nào cũng chỉ làm thuê cho các nước Châu Á khác. Tại sao lại có thể có suy nghĩ hẹp hòi nhỏ mọn đến vậy? Tại sao không chọn làm một nước khá giả ít nhất mấp mé với những nước kia mà lại chọn làm một nước nghèo chỉ đi làm thuê cho họ? “Việt Nam Cộng hòa giàu vì Mỹ đổ tiền”? Vậy sao không chọn để giàu mà lại chọn Nga, Tàu để nghèo bền vững?

Về việc này người Đức đã có câu trả lời từ lâu, người Cộng sản Đức đã chọn chạy về phía giàu có văn minh hơn, họ tự đạp đổ bức tường Berlin – nơi mà năm 1963, Tổng thống Mỹ John Kennedy đã nói: “Tự do mang đến nhiều khó khăn và dân chủ không phải là hoàn hảo, nhưng chúng tôi không bao giờ phải dựng lên một bức tường để ngăn người dân rời bỏ đất nước”.

* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do

Giá Trị Của Việt Nam Cộng Hòa

Từ 1954 tại miền Bắc và sau 1975 trên phạm vi cả nước, bộ máy tuyên truyền của đảng CS đã không ngừng vẽ trong nhận thức của bao nhiêu thế hệ Việt Nam một VNCH chẳng khác gì một con ma, ghê sợ, hung dữ và tội lỗi nhất trong thế gian này. VNCH là hiện thân của mọi thứ tội ác.

Trong nhận thức không chỉ tuổi trẻ Việt Nam sinh sau 1975 mà ngay cả các tầng lớp cán bộ, đảng viên, nhà văn, nhà thơ thì VNCH có ba đặc điểm lớn là “tham nhũng”, “trấn áp” và “ôm chân đế quốc Mỹ”.

Trong tiểu luận “Khám nghiệm một hồn ma” trên Talawas hơn mười năm trước người viết đã có dịp phân tích thể chế cộng hòa tại miền Nam. Xin trích một phần bài viết đó ở đây để chia sẻ với các độc giả chưa đọc.

Miền Nam trước 1975 có tham nhũng không? Có.

Miền Nam có đàn áp biểu tình, đối lập không? Có.

Miền Nam trước 1975 có sống bám vào viện trợ Mỹ không? Có.

Nhưng các đặc điểm đó có đại diện cho Việt Nam Cộng hoà (VNCH) không? Không.

Cho đến nay, một số người hoặc vì không có cơ hội nghiên cứu sinh hoạt chính trị tại miền Nam, không phân biệt được sự khác nhau giữa chính quyền và chế độ chính trị hoặc vì nghe riết những lời tuyên truyền của đảng đến độ nhập tâm, đã đồng hoá chính quyền của các ông Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh với VNCH.

Như một viên ngọc nằm trong lòng lớp rong rêu của vỏ con trai, trên tất cả, giá trị đích thực của VNCH không nằm trong tham nhũng, trấn áp và đồng đô la Mỹ mà nằm trong Hiến pháp VNCH đặt nền tảng trên một thể chế dân chủ do dân và vì dân.

Lời mở đầu của Hiến pháp 1967 do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967, xác định Việt Nam là một chế độ cộng hòa “Dân chủ độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân” phát xuất từ “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.”

Ngoài phần mở đầu hùng hồn nêu trên, chuyên chở trong suốt 9 chương và 117 điều của Hiến pháp 1967 là nền tảng của chế độ cộng hòa, qua đó, quyền lãnh đạo đất nước như chỉ rõ trong điều 3, được phân quyền rõ rệt: “Ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản Tự do, Dân chủ và Công bằng xã hội”.

Hiến pháp 1967 tốt đẹp đến nỗi ông Lý Quý Chung, trong Hồi ký không tên, xuất bản tại Sài Gòn trước ngày ông qua đời, dù chê bai các chính quyền miền Nam tàn tệ, cũng không thể nói xấu bộ luật tối thượng của chế độ cộng hoà như một diễn đàn để ông ta thực thi dân chủ: “Quốc hội lập hiến kéo dài một năm đã cung cấp cho tôi một môi trường học tập đấu tranh chính trị tại nghị trường và từ diễn đàn này, tôi cũng có cơ hội bày tỏ công khai qua mạng lưới báo chí Sài Gòn các quan điểm của mình đối với chính quyền, đối với các vấn đề dân chủ, chiến tranh, hoà bình v.v…”

Về căn bản, không có nhiều khác biệt giữa Hiến pháp VNCH 1967 và Hiến pháp Nam Hàn 1948 được tu chỉnh lần cuối vào năm 1987. Cả hai hiến pháp đều dựa trên chế độ cộng hoà, phân quyền rõ rệt, thích hợp với đà tiến hoá của văn minh nhân loại.

Dân chủ không phải là món quà của ông thần tài đem đặt ngay trước cửa nhà mà là chiếc máy lọc từ nước đục sang nước trong, từ phong kiến lạc hậu đến văn minh tiên tiến, và trong quá trình đó hai quốc gia VNCH và Nam Hàn, đều phải trải qua những kinh nghiệm máu xương trên con đường dân chủ hoá đất nước. Giống như người dân Nam Hàn, người dân miền Nam Việt Nam cũng vừa học dân chủ và vừa tập sống dân chủ với tất cả những khó khăn thử thách.

Điểm khác nhau chính giữa Nam Hàn và Nam Việt Nam là cơ hội. Nam Hàn có cơ hội để biến những ước mơ của dân tộc Triều Tiên gói ghém trong hiến pháp của họ để ngày nay là nước giàu mạnh nhất nhì châu Á. Miền Nam Việt Nam thì không.

Chế độ cộng hoà tại miền Nam Việt Nam ra đời và lớn lên trong một hoàn cảnh chiến tranh tàn khốc, trong đó các nguyên tắc dân chủ đã trở thành con dao hai lưỡi. Chính con dao dân chủ hai lưỡi đó đã đâm vào thân thể của chế độ cộng hoà hàng trăm vết thương đau đớn từ ngày mới ra đời cho đến gục xuống trong tức tưởi.

Ngay cả những quốc gia tiên tiến như Pháp, Mỹ cũng phải bước qua con đường đầy máu nhuộm để có được nền dân chủ như hôm nay. VNCH cũng vậy. Miền Nam có đàn áp chính trị nhưng cũng có đấu tranh chính trị, có ông quan tham nhũng nhưng cũng có nhiều phong trào chống tham nhũng hoạt động công khai, có ông tướng lạm quyền nhưng cũng có ông tướng trong sạch, có nghị gà nghị gật nhưng cũng có những chính khách, dân biểu, nghị sĩ đối lập chân chính.

Nếu trước 1975, vì thiếu cái nhìn về cả hai bên của cuộc chiến và bất mãn trước xã hội nhiễu nhương, việc kết án chính quyền là “trấn áp” có thể còn thông cảm được, thế nhưng sau 42 năm sống dưới chế độ độc tài đảng trị vẫn có kẻ biện minh cho hành động đốt xe, bắt cóc, ném bom xăng vào thương xá, ném lựu đạn vào nhà hàng ăn uống trước đây thì quả thật là vô cảm.

Đặc điểm thứ ba đảng tuyên truyền là miền Nam chỉ biết “ôm chân Mỹ”. Thật mệt mỏi nếu lại phải lần nữa đem so sự lệ thuộc vào Mỹ của chính quyền miền Nam và sự lệ thuộc vào Liên Xô, Trung Cộng của đảng CSVN và cũng chẳng sướng ích gì khi phải đọc lại bảng kê khai vũ khí, quân trang, quân dụng mà hai đế quốc cộng sản đổ xuống Việt Nam.

Cho dù sự lệ thuộc vào cường quốc là điều không tránh khỏi trong thế giới phân cực của thời kỳ Chiến tranh Lạnh vừa qua thì chọn lựa cường quốc nào sẽ mang lại nhiều lợi ích cho đất nước hơn?

Lịch sử đã chứng minh một cách hùng hồn, hầu hết các nước chọn lựa hay do điều kiện chính trị thế giới đẩy đưa, đã đứng về phía tự do dân chủ như Nhật Bản, Tây Đức, Nam Hàn, Đài Loan, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ v.v. đều trở nên các quốc gia ổn định và phát triển nhờ chính sách đối ngoại thân Mỹ một cách khôn khéo, trong lúc các nước theo chân Liên Xô, Trung Cộng như Bắc Việt, Cu Ba, Bắc Hàn thì kết quả ra sao không cần phải phân tích.

Không ai từng chống Mỹ quyết liệt hơn cố tổng thống Anwar Sadat nhưng để mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân Ai Cập, năm 1976, ông đã bỏ đồng minh Liên Xô để bước sang phía thế giới tự do cho dù ông biết trước sự chọn lựa đó có thể trả giá bằng nhiều rủi ro như ông tiên đoán trong diễn văn đọc trước Quốc hội Israel ngày 20 tháng 11 năm 1967.

Một số người có thể cho rằng Hiến pháp VNCH cũng do người Mỹ nhúng tay vào. Dù điều đó đúng thì đã sao. Hiến pháp của quốc gia Nhật Bản hiện đại cũng do bàn tay của Mỹ nhưng ngày nay tướng McArthur chẳng những không bị oán ghét mà còn được nhân dân Nhật xem như là một trong những người có công lớn trong việc xây dựng nước Nhật hiện đại.

Dân chủ là một kỳ quan được nhân loại bồi đắp qua nhiều thời đại chứ không phải là tài sản riêng của quốc gia nào. Học hỏi cái hay cái đẹp của các nước tiên tiến để áp dụng vào cuộc cách mạng dân tộc và phát triển đất nước như cụ Phan Chu Trinh từng thống thiết kêu gào gần trăm năm trước, luôn luôn là điều đáng khuyến khích.

Phân tích để thấy, chế độ cộng hoà tuy không còn hiện diện tại miền Nam nhưng các giá trị dân tộc, nhân bản và khai phóng thể hiện trong Hiến pháp VNCH vẫn còn đó. Gia tài quý giá đó chẳng những không rã mục theo chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, Dương Văn Minh mà ngày nay đã vượt ra khỏi biên giới Bắc Nam để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc.

Nếu ai cho người viết cường điệu hãy tạm gác qua bên các định kiến Bắc Nam, khuynh hướng chính trị, đảng phái, tôn giáo, tả khuynh, hữu khuynh, thù hận riêng tư và thậm chí che luôn bốn chữ Việt Nam Cộng hoà trên trang đầu của Hiến pháp mà chỉ đọc một cách nghiêm chỉnh nội dung của Hiến pháp VNCH 1967 thôi, người đọc sẽ công nhận đó chính là mục tiêu mà dân tộc Việt Nam cần phải đạt đến.

Việc lặp lại những lời tuyên truyền cũ mèm của đảng cho rằng chế độ cộng hoà tại miền Nam là “sản phẩm do chính quyền Mỹ tạo ra trong Chiến tranh Lạnh” chẳng khác gì chê lớp rong rêu ngoài vỏ một con trai.

Hiến pháp VNCH có thể chưa hoàn chỉnh nhưng là một văn kiện tham khảo cần thiết để kiến tạo một Việt Nam dân chủ cường thịnh. Hạt giống dân chủ khơi mầm tại miền Nam cũng không chỉ bắt đầu sau khi đất nước bị chia đôi mà đã có từ hàng trăm năm trước.

Lợi dụng chính sách Nam kỳ tự trị của thực dân, các nhà cách mạng tại miền Nam có cơ hội học hỏi và áp dụng phương pháp đấu tranh nghị trường, tiếp cận các tư tưởng dân chủ Tây phương, mở mang dân trí làm nền tảng cho chế độ cộng hoà sau này.

Đó không phải là sản phẩm của Tây hay Mỹ mà là vốn quý của dân tộc đã được đổi bằng mồ hôi nước mắt của nhiều người. Những ai biết gạt bỏ định kiến Bắc Nam, gạt bỏ lòng “căm thù Mỹ Ngụy”, sẽ thấy đó chính là hành trang cần thiết cho nỗ lực mưu cầu một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau.

Tiếc thay, viên ngọc và viên sỏi khác nhau khi nằm trong tay người thợ bạc nhưng lại giống nhau khi nằm trong tay mấy cậu bé bắn chim.

Do đó, phục hưng VNCH không có nghĩa là phục hưng chính quyền miền Nam. Chính thể không đồng nghĩa với một chính quyền và do đó không sống hay chết theo một chính quyền.

Giá trị của VNCH được xây bằng xương máu của bao nhiêu người và ngày nay đã vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc.

Lịch sử Việt Nam như một dòng sông, có khi cuồn cuộn lúc âm thầm, có chỗ sâu chỗ cạn nhưng chưa bao giờ ngưng chảy. Đó là sự thật.

Khoảng thời gian từ khi Mã Viện, danh tướng nhà Đông Hán, đánh bại Hai Bà Trưng (năm 43) đến khi Lý Nam Đế đánh bại quân Lương Vũ Đế và dựng nước Vạn Xuân (năm 543) là tròn 500 năm. Biết bao nhiêu lớp người đã sinh ra và chết đi trong suốt 5 thế kỷ sống trong bóng tối nô lệ nhưng sức sống Việt Nam vẫn tồn tại và lớn lên.

Đối mặt với một kẻ thù Trung Cộng đông hơn nhiều và mạnh hơn nhiều, chưa bao giờ sức mạnh tổng hợp của 90 triệu người Việt trong nước và 3 triệu người Việt ở hải ngoại cần thiết như hôm nay.

Chỉ có sức mạnh toàn dân tộc phát triển trên cơ chế dân chủ tự do mới mong thắng được Trung Cộng và mọi kẻ thù có âm mưu xâm lược Việt Nam. Tổ tiên Việt Nam đã làm được rồi các thế hệ Việt Nam ngày nay cũng sẽ làm được.

Người viết biết rằng, đối với một số người Việt đã bị bộ máy tuyên truyền đầu độc quá lâu và các bạn trẻ bị nhào nặn hoàn toàn trong hệ thống giáo dục một chiều CS, để có một nhận thức đúng về lịch sử là một quá trình đấu tranh tư tưởng khó khăn.

Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn thẳng vào thực tế đất nước sau 45 năm vẫn là một nước lạc hậu về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, quốc phòng và đời sống. Việt Nam còn thua xa những nước ở châu Phi như Ghana, Sierra Leone, Namibia vì những quốc gia đó còn nghèo nhưng hãnh diện vì chính phủ họ do nhân dân họ bầu lên.

Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn vào cách giải quyết tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Cộng của lãnh đạo CSVN. Ngoài những lời phản đối đọc như kinh nhật tụng họ không có và cũng không thể có một chọn lựa dứt khoát nào chỉ vì quyền lợi trước mắt của một nhóm người cầm quyền được đặt lên trên quyền lợi lâu dài của đất nước.

Sau mỗi cơn giận hờn, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy.

Thảm trạng xã hội Việt Nam hôm nay, những lạc hậu kinh tế hôm nay, những yếu kém về quốc phòng hôm nay, những cô đơn trong bang giao quốc tế hôm nay là những câu trả lời cho những ai còn do dự, còn một chút tin tưởng nào đó ở lãnh đạo đảng CSVN.

Giống như hầu hết các nước cựu CS ở Đông Âu và khối Liên Xô, thể chế Cộng Hòa là chọn lựa đương nhiên và dứt khoát. Các quốc gia sẽ bình đẳng trước công pháp quốc tế. Những khẩu hiệu tuyên truyền rất sến như “16 chữ vàng”, “hữu nghị Việt Trung” sẽ bị chôn sâu theo xác của ý thức hệ CS.

Giành lại Hoàng Sa và bảo vệ Trường Sa là một cuộc tranh đấu gian nan, gai góc, bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, nhưng chính nghĩa và chân lý cuối cùng sẽ thắng.

Trần Trung Đạo

Cùng Khách Quan Nhìn Lại Chế Độ “Việt Nam Cộng Hòa”

30/4 là đại thắng vinh quang và đường hoàng của cả dân tộc. Thế nhưng một số người ở hải ngoại vẫn chưa thấu hiểu điều này.

Cứ đến dịp lễ 30/4 hàng năm, người dân Việt Nam lại phấn khởi kỷ niệm chiến thắng chung của toàn dân tộc trước các thế lực ngoại xâm – chiến thắng vĩ đại đã giúp non sông thu về một mối.

Chiến thắng này đã nối tiếp chiến thắng Điện Biên Phủ cũng như các chiến thắng hào hùng khác của cha ông ta thời Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền,…

Tranh cổ động kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam (ảnh: Tapchithethao)

Mặc dầu vậy, một bộ phận nhỏ người gốc Việt sống ở nước ngoài lại hậm hực coi dịp 30/4 là “ngày hận, tháng đen” và tổ chức kỷ niệm sự kiện này theo cách riêng của họ.

Có lẽ do chưa thấm hết lịch sử Việt Nam hoặc bị các thế lực hắc ám nào đó lừa phỉnh nên họ vẫn coi cuộc kháng chiến chống Mỹ như một cuộc nội chiến. Theo họ, cái chính thể mang tên “Việt Nam Cộng hòa” là hoàn toàn hợp pháp và sự sụp đổ của chế độ đó là do sự “cưỡng chiếm” từ miền Bắc.

Trước các luận điệu hoặc ngộ nhận này, chúng ta cần nhìn lại lịch sử và làm một cuộc “giải phẫu” chế độ Việt Nam Cộng hòa cùng hai công cụ bạo lực của nó là Quân lực Việt Nam Cộng hòa và Cảnh sát Quốc gia Việt Nam Cộng hòa để thấy rõ bản chất của nó và những sự thật mười mươi.

Chính quyền bất hợp pháp

Có thể nói, ngay từ đầu, chính thể “Việt Nam Cộng hòa” đã không có một cơ sở pháp lý vững vàng nào. Mãi tới tận năm 1955 nó mới ra đời và ra đời một cách bất hợp pháp trên nửa lãnh thổ phía nam của Việt Nam như một “sáng tạo” thuần túy của người Mỹ nhằm theo đuổi các mục tiêu phản ánh lợi ích riêng của họ (thị trường Đông Nam Á, gia tăng ảnh hưởng ở vị trí chiến lược, ngăn chặn làn sóng xã hội chủ nghĩa…).

Trong khi đó Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập một cách chính danh trên toàn lãnh thổ Việt Nam vào năm 1945 sau cuộc Cách mạng tháng Tám của muôn triệu con dân đất Việt trước khi bất kỳ một lực lượng quân Đồng minh nào vào giải giáp quân Nhật.

Ngay trong năm 1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc hội theo chế độ phổ thông đầu phiếu trên toàn quốc với sự tham gia của đông đảo đồng bào và đã có bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua – hai sự kiện này đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà nước dân chủ mới khai sinh.

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành những sắc lệnh, những văn bản pháp lý đầu tiên khẳng định nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ từ Bắc chí Nam.

Không những vậy, sau năm 1954 nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dù đang trên thế thắng về mặt quân sự (với trận Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu) vẫn chấp nhận một cuộc tổng tuyển cử sòng phẳng trên tinh thần hòa hợp để thống nhất đất nước đang tạm thời bị chia cắt. Tuy nhiên cả phía Mỹ và cái gọi là Việt Nam Cộng hòa đều kiên quyết từ chối thiện chí đó!

Theo Hiệp định Geneva, Việt Nam chỉ tạm thời bị chia cắt làm 2 miền, giới tuyến quân sự chỉ là tạm thời và không phải là biên giới quốc gia. Theo Hiệp định này, hai bên sẽ tiến hành hiệp thương để thống nhất đất nước trong năm 1956.

Tuy nhiên ông Ngô Đình Diệm – do CIA (Mỹ) “tìm thấy” và đưa về Việt Nam làm Thủ tướng của chính phủ bù nhìn Bảo Đại – đã tuyên bố không có tổng tuyển cử gì hết, trắng trợn vi phạm Hiệp định Geneva, và đi ngược lại nguyện vọng thống nhất của dân tộc.

Thời đó, người Mỹ và phe cánh của ông Diệm lo sợ uy tín to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận Việt Minh và Đảng Lao động Việt Nam và tin rằng nếu tiến hành bầu cử tự do, Hồ Chí Minh sẽ giành được tới 80% số phiếu.

Do vậy ông Diệm với sự giúp đỡ của người Mỹ đã phải sử dụng nhiều “mưu hèn kế bẩn” để củng cố quyền lực của mình (với tư cách là Thủ tướng), rồi gian lận trong cuộc “trưng cầu dân ý” để hạ bệ luôn Quốc trưởng Bảo Đại, dựng lên “Việt Nam Cộng hòa” với Diệm làm Quốc trưởng và sau đó là Tổng thống.

Tiếp đó, ông Diệm áp dụng nhiều chiêu thức man rợ để tàn sát những người kháng chiến cũ và những người yêu nước chân chính, khủng bố tinh thần của nhân dân, củng cố chính quyền phản động của mình, công khai phá hoại Hiệp định Geneva, mưu đồ chia cắt lâu dài đất nước.

Cảnh chính quyền “Việt Nam Cộng hòa” xử bắn sinh viên Lê Văn Khuyên ngày 29/1/1965 ngay trên đường phố Sài Gòn (ảnh: Tư liệu)

Sau khi đã củng cố vững chắc chính quyền, Ngô Đình Diệm đã cho tiến hành “cải cách điền địa” với nội dung ngược với “cải cách ruộng đất” (mục tiêu dân cày có ruộng) mà cách mạng đã tiến hành trước đó.

Về bản chất chính trị, “Việt Nam Cộng hòa” đại diện cho các tầng lớp tư sản mại bản và phong kiến thân Mỹ.

Nền tảng trực tiếp cho sự ra đời của Việt Nam Cộng hòa là chính thể “Quốc gia Việt Nam” (1949-1955) – đây là một chế độ bù nhìn do Pháp lập nên trong thời kỳ kháng Pháp và do cựu hoàng Bảo Đại (mất ngôi hoàng đế sau Cách mạng tháng Tám) làm quốc trưởng. Quốc kỳ “ba que” của Việt Nam Cộng hòa cũng chính là quốc kỳ của “Quốc gia Việt Nam” được Pháp “trao trả độc lập”.

Như vậy, ngay từ đầu, chính thể này đã phạm nhiều tội ác và mang “gene” Việt gian rất rõ nét, từ “từng lỗ chân lông” của mình.

Bước chuyển từ “Quốc gia Việt Nam” sang “Việt Nam Cộng hòa” là bước chuyển từ làm tay sai cho thực dân Pháp sang làm tay sai cho đế quốc Mỹ.

Theo thời gian, chính thể Việt Nam Cộng hòa ngày càng thối nát với tệ nạn tham nhũng, các cuộc đấu đá nội bộ và các cuộc đảo chính quân sự. Chế độ này không đại diện cho dân tộc và trên thực tế đã bị nhân dân và lịch sử quay lưng lại.

Còn tính chính danh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là rất cao, nên Mỹ không thể lấy cớ để lôi kéo quân của Liên Hợp Quốc vào lãnh thổ Việt Nam tham chiến như đã từng xảy ra trên bán đảo Triều Tiên.

Quân đội, cảnh sát mang gốc gác thực dân

Chính thể Việt Nam Cộng hòa là phi pháp nên các công cụ bạo lực của nó cũng chỉ là lực lượng phản dân hại nước, đang tâm làm tay sai cho các thế lực ngoại bang.

Quân lực Việt Nam Cộng hòa thường khoe là chiến đấu cho tự do. Tuy nhiên quân đội này lại phát xuất từ chính lực lượng ngụy quân đã sát cánh bên quân đội viễn chinh Pháp dưới lá cờ tam tài! Đa phần các tướng lĩnh cao cấp của quân đội Sài Gòn đều đã từng phục vụ trong quân đội Pháp hoặc quân đội “Quốc gia Việt Nam” của Bảo Đại để bảo vệ nền thống trị của người Pháp ở Đông Dương.

Viên tướng tư lệnh Phạm Văn Phú, kẻ đã bại trận thảm hại tại chiến trường Tây Nguyên năm 1975, cũng từng là lính Việt chiến đấu hăng hái bên các chiến hữu Pháp tại Điện Biên Phủ năm 1954. Tại Điện Biên, ông Phạm Văn Phú khi đó si mê hát Quốc ca Pháp, hô hào các binh sĩ ngụy khác đánh trả quân Việt Minh của tướng Võ Nguyên Giáp.

Cái gọi là “Cảnh sát Quốc gia” của chế độ ngụy cũng không hơn. Nó bắt nguồn từ lực lượng cảnh sát và mật thám của Pháp tại Đông Dương từ năm 1946. Tướng Nguyễn Ngọc Loan – Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia ngụy, kẻ đã dùng súng lục bắn thẳng vào đầu một tù binh cộng sản ngay trước ống kính máy ảnh và máy quay phim của phóng viên ngoại quốc trên đường phố Sài Gòn năm 1968 – xuất thân là quân nhân trong quân đội Liên hiệp Pháp.

Người dân Sài Gòn đón chào quân giải phóng tháng 4/1975 (ảnh: Báo chí nước ngoài)

Khu vực Dinh “Độc lập” vào ngày 30/4/1975 (ảnh: Tư liệu)

Đến khi đổi chủ, hai lực lượng này lại hết lòng với các quan thầy Mỹ. Dù người ta có ngụy biện đến thế nào cũng không thể phủ nhận bản chất tay sai của quân đội và cảnh sát ngụy.

Cả quân lực và cảnh lực ngụy đã tham gia vào những chiến dịch “diệt cộng” rất dã man, trên tinh thần “thà giết nhầm còn hơn bỏ sót”. Thời Diệm, với luật 10/59, máy chém được lê khắp miền Nam để chặt đầu người cộng sản và làm họ lung lạc ý chí.

Trong “cuộc chiến vì tự do”, quân lực Việt Nam Cộng hòa đã sát cánh và tiếp tay cho “ông chủ” của mình là quân viễn chinh Mỹ – những kẻ đã phạm nhiều tội ác phi nhân tính như hãm hiếp phụ nữ Việt Nam, thảm sát dân thường (tiêu biểu có trường hợp Mỹ Lai), sử dụng chất độc da cam, sử dụng bom napalm và các loại bom chùm có sức sát thương tàn bạo…

Với những đòn nhục hình gần như chỉ để triệt hạ các tù binh cộng sản (đóng đinh vào đầu, đục răng, đục xương bánh chè, luộc sôi người, đốt cơ quan sinh dục…), nhà tù Phú Quốc – địa ngục trần gian do quân đội Sài Gòn tạo ra (sau khi học hỏi kinh nghiệm của chuyên gia Mỹ) – là minh chứng hùng hồn cho những vi phạm nhân quyền và những tội ác kiểu trung cổ trời không dung đất không tha của chế độ ngụy.

Quân đội ngụy hoàn toàn được đào tạo theo lối Mỹ, được trang bị cực tốt và đầy đủ, có hỏa lực mạnh và sức cơ động cao, hoạt động cực kỳ tốn kém theo kiểu Mỹ và bằng ngân sách Mỹ.

Đã vậy, khi tác chiến quân đội Sài Gòn còn nhận được sự cố vấn của chuyên gia quân sự Mỹ và sự hỗ trợ tối đa về hỏa lực và hậu cần từ phía quân đội Mỹ. Nói cách khác, quân đội Sài Gòn là một đội quân đánh thuê cho đế quốc Mỹ và được Mỹ ưu ái đầu tư bài bản.

Tuy nhiên, có một thứ mà chính người Mỹ cũng thừa nhận là họ không thể mang đến cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa được – đó là tinh thần chiến đấu quả cảm và sự mưu trí sáng tạo.

Với bản chất đánh thuê (và cả chết thuê nữa), quân đội Sài Gòn hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ, thiếu lý tưởng, không thể đại diện cho dân tộc Việt Nam và cũng không thể kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc.

Đến khi Mỹ rút viện trợ và ngưng yểm trợ thì quân đội này (cùng với chính thể Việt Nam Cộng hòa) suy sụp nhanh chóng, không còn biết “đánh đấm gì nữa”, chẳng khác nào “bệnh nhân bị rút ống thở”.

Trong đợt tổng công kích của quân giải phóng năm 1972, quân ngụy Sài Gòn trụ vững được phần lớn là nhờ Hoa Kỳ đã yểm hộ tối đa cho họ bằng phi pháo và oanh tạc cơ chiến lược B-52.

Đến năm 1975, khi bị người Mỹ bỏ rơi thì họ đã không thể chống đỡ nổi các đòn tiến công dũng mãnh của quân giải phóng.

Sau khi trúng đòn điểm huyệt ở Buôn Ma Thuột, dù lực lượng vẫn đông và vũ khí còn nhiều (hơn hẳn quân giải phóng) nhưng quân đội ngụy ở Tây Nguyên đã nhanh chóng rã đám do thiếu mưu lược và do sĩ quan của họ chỉ mải lo cho gia đình mình và di tản một cách hỗn loạn, khiến thế trận của ngụy quyền ở toàn bộ Tây Nguyên sụp đổ.

Một số kẻ cố bào chữa cho ngụy quyền Sài Gòn, cho rằng nếu quân đội Sài Gòn đánh thuê cho Mỹ thì quân đội nhân dân Việt Nam hoạt động theo chỉ đạo của Liên Xô.

Vế thứ 2 của luận điệu trên là hoàn toàn không đúng. Vì Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao và kết hợp nhuần nhuyễn hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Quân đội Nhân dân Việt Nam trân trọng sự giúp đỡ quý báu của nhân dân các nước XHCN nhưng không bao giờ ỷ lại vào đó.

Trong tác chiến, quân đội nhân dân Việt Nam có tham khảo kinh nghiệm và lý luận quân sự của nước khác nhưng là trên tinh thần độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh, xuất phát từ thực tiễn dân tộc và đất nước (trường hợp thay đổi phương châm tác chiến tại Điện Biên Phủ là một ví dụ điển hình).

Và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không để cho quân đội nước bạn nào vào lãnh thổ để tham chiến bên cạnh mình. Trong khi đó, Việt Nam Cộng hòa đã để cho nửa triệu quân Mỹ và nhiều quân chư hầu của Mỹ vào giày xéo đất nước.

Nếu xét về viện trợ thì những gì mà Liên Xô và Trung Quốc cung cấp cho Quân đội Nhân dân tuy lớn nhưng đâu thấm tháp so với khối lượng khổng lồ tiền bạc, vũ khí và quân cụ mà Mỹ đổ vào quân đội Sài Gòn.

Nên nhớ, trong hoàn cảnh thời đó, mức lương của một sĩ quan ngụy rất cao, đủ nuôi sống cả gia đình họ.

Tất nhiên, Quân lực Việt Nam Cộng hòa bao gồm những người con đất Việt máu đỏ da vàng, mang trong mình các nét văn hóa Việt.

Tuy nhiên họ đã không phát huy được sức mạnh của văn hóa và truyền thống tổ tiên, vì họ đã sống trong môi trường tha hóa và thiếu chính danh của Việt Nam Cộng hòa, đã lầm đường lạc lối, đã bị lừa dối, bị ép buộc, hoặc đơn giản là hành động chỉ vì miếng cơm manh áo.

Lòng dân

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, lòng dân luôn hướng về Đảng Cộng sản Việt Nam, cả ở miền Bắc lẫn miền Nam.

Trong suốt thời gian tồn tại của mình, dù nhiều lần hô hào Bắc tiến nhưng quân đội Sài Gòn chưa bao giờ có khả năng đưa lục quân ra miền Bắc XHCN, ngược lại họ luôn trong thế phòng ngự.

Nhân dân Sài Gòn vui mừng chào đón các chiến sĩ giải phóng tháng 4/1975 (ảnh: Tư liệu)

Trong thời kỳ 1955-1975, không có một quân đội thứ 2, một chính quyền thứ 2 ở miền Bắc, cũng không có biểu tình và các lực lượng chống đối ở miền Bắc.

Nếu có thì đó chỉ là các toán gián điệp-biệt kích do Mỹ-ngụy tung ra Bắc nhưng các nhóm này đều nhanh chóng bị cơ quan an ninh cách mạng bắt gần như toàn bộ với sự trợ giúp của quần chúng.

Điều duy nhất Mỹ-ngụy có thể làm là đưa máy bay vượt vĩ tuyến 17 ném bom phá hoại miền Bắc XHCN, giết hại dân thường.

Trong khi đó, ở miền Nam dưới ách Mỹ-ngụy, liên tục diễn ra các cuộc biểu tình của dân chúng, của Phật giáo, sinh viên, trí thức, ký giả…, các hoạt động đấu tranh vũ trang rộng khắp của quần chúng phá thế kìm kẹp ở nông thôn (như phong trào đồng khởi ở Bến Tre và toàn Nam bộ).

Nằm ngay cửa ngõ Sài Gòn là khu “đất thép” Củ Chi của các du kích và quân giải phóng miền Nam, tồn tại bao năm như cái gai thách thức chế độ Mỹ-ngụy, những kẻ đã trút xuống đó vô số bom đạn và mở nhiều cuộc càn quét sử dụng các loại vũ khí tối tân nhưng không tài nào khuất phục được ý chí của quân dân Củ Chi.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 đã giáng một đòn mạnh vào Mỹ-ngụy, làm cho Mỹ nhận ra rằng họ không thể thắng ở miền Nam Việt Nam, đồng thời chỉ cho thế giới thấy chính thể Việt Nam Cộng hòa mất lòng dân đến mức nào.

Vì rõ ràng, những người cộng sản không thể tiến hành một cuộc tấn công đồng loạt, rộng khắp và mãnh liệt trong thời gian dài như vậy (trên toàn đô thị miền Nam, trong điều kiện hết sức khó khăn) nếu thiếu sự che chở bao bọc của đông đảo nhân dân.

Như vậy ở phía nam vĩ tuyến 17 đã hình thành 2 vùng kiểm soát với 2 quân đội tương ứng, khiến cho tính hợp pháp và chính danh của chế độ Việt Nam Cộng hòa vốn đã kém lại càng bị thách thức nghiêm trọng.

Nhân dân Sài Gòn vui vẻ chào đón và hỏi han các chiến sĩ giải phóng quân ngày 30/4/1975 (ảnh: Tư liệu nước ngoài)

Thậm chí ngay cả ở những vùng Mỹ-ngụy chiếm giữ, vẫn tồn tại song song hai hệ thống chính quyền, hai lực lượng. Một bên là chế độ ngụy công khai, một bên là các đảng bộ cộng sản cùng các đơn vị công an và bộ đội địa phương hoạt động ngầm tương ứng với các đơn vị hành chính.

Ý Đảng luôn thống nhất với lòng dân, các đảng viên kiên định bám sát quần chúng như cá với nước. Địch phải liên tục đối phó với chiến tranh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân ở khắp nơi.

Ngay giữa Sài Gòn, kẻ địch thường xuyên phải căng thẳng vì những trận đánh xuất quỷ nhập thần của biệt động Sài Gòn (thuộc quân đội nhân dân) và lực lượng an ninh T4 (thuộc công an nhân dân).

Hệ thống cảnh sát ngụy dù dày đặc và rất hung hãn nhưng không thể cản ngăn phong trào đấu tranh của quần chúng, không thể bắt hết cán bộ cách mạng được nhân dân bảo vệ.

Ngược lại, chính lực lượng tình báo cách mạng đã xâm nhập hết sức hiệu quả vào bộ máy an ninh tình báo ngụy và hệ thống chính quyền ngụy, kể cả ở cấp cao nhất.

Trước giờ cáo chung, ngụy quyền còn tuyên truyền quân giải phóng sẽ dìm Sài Gòn trong biển máu. Nhưng cuối cùng thì không có cuộc tắm máu nào như thế cả.

Ngược lại, những người hạ vũ khí về với nhân dân đã nhận được sự khoan hồng của cách mạng. Các hình ảnh do chính phóng viên ảnh và quay phim nước ngoài ghi lại đã cho thấy quần chúng hồ hởi đón chào quân giải phóng đến nhường nào trong trưa 30/4/1975 tại Sài Gòn.

Như vậy, có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam 1955-1975 không phải là nội chiến mà là cuộc kháng chiến chính nghĩa do toàn dân tiến hành chống lại ngoại xâm và tay sai của ngoại bang./.

Theo Trung Hiếu/VOV.VN

Suy Nghĩ Của Giới Trẻ Trong Nước Về Việt Nam Cộng Hòa

Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt tròn 40 năm. Cho đến nay những ký ức và hậu quả của cuộc chiến đó vẫn chưa phai nhòa. Giới trẻ trong nước và hải ngoại có cái nhìn thế nào về câu chuyện lịch sử đau thương này và Và trong kỳ này, mời quý vị cùng đến với những suy nghĩ của giới trẻ trong nước về Việt Nam Cộng Hòa. Cùng với ba bạn khách mời Phương Dung, Lê Đông và Minh Phúc. suy nghĩ của họ về sự hòa hợp, hòa giải, đoàn kết dân tộc trong hiện tại và tương lai ? Đó chính là những điều mà tạp chí diễn đàn bạn trẻ mong muốn được truyền tải đến các bạn cho đến hết ngày 30/4/ 2015.

Chân Như: Khi còn đi học, các bạn được dạy những gì về Việt Nam Cộng hòa ? Cho đến nay, các bạn có suy nghĩ gì về những thứ được dạy đó ?

Phương Dung: Khi còn đi học thì ở trường họ dạy em chế độ VNCH là bán nước theo Mỹ Ngụy. Họ bảo chế độ ông Ngô Đình Diệm là dã man man rợ là lê máy chém đi khắp miền Nam, chém giết rất nhiều người Việt. Cho đến khi em lên mạng đọc thông tin biết được sự thật thì cảm thấy thất vọng và không hiểu tại sao họ lại có thể lừa dối lịch sử như vậy. Sau quá trình tìm hiểu thì em thấy chế độ VNCH không như những gì mà em đã từng học trong sách vở, có nhiều điều em không được học trong sách em thấy hơi bị thất vọng.

Minh Phúc: Hồi xưa em rất thích học môn lịch sử vì bản thân mình là người yêu nước nên rất yêu những gì đất nước đã từng làm được. Theo những gì em nhớ trong đầu, hồi xưa, phần lịch sử họ dạy tất cả những ngày lễ trong năm như 30-4 hay 2-9…. Họ cho học sinh nghe lại vấn đề như: chính quyền miền Nam ngày xưa là chính quyền Mỹ ngụy, làm tay sai bán nước cho Mỹ, là chính quyền bù nhìn. Sau khi tìm hiểu từ internet và những người xung quanh cũng như bạn bè thì em biết VNCH thực sự là một đất nước chủ thể; Một đất nước còn dân chủ hơn cả ngoài Bắc Việt Nam nữa.

Họ cho học sinh nghe lại vấn đề như: chính quyền miền Nam ngày xưa là chính quyền Mỹ ngụy, làm tay sai bán nước cho Mỹ…Sau khi tìm hiểu từ internet và những người xung quanh cũng như bạn bè thì em biết VNCH thực sự là một đất nước chủ thể; Một đất nước còn dân chủ hơn cả ngoài Bắc VN

Minh Phúc

Lê Đông: Cho đến ngày hôm nay, dù em sinh sau 1975 hoàn toàn không biết gì về VNCH nhưng em đủ lớn để nhận thức được những gì xảy ra với xã hội VN mình đang sống dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Đặc biệt với hệ thống giáo dục, truyền thông và báo chí khiến em suy nghĩ và cảm thấy thật kinh khủng khi đảng CSVN đã vận dụng triệt để lối tuyên truyền là tất cả người dân Việt Nam hãy yêu, hãy sống cống hiến cho đảng, cho lý tưởng Hồ Chí Minh từ mọi cấp bậc kể cả mẫu giáo. Và song song với nó là những gì đi ngược lại với những tuyên truyền đó là phản động là kẻ thù. Có thể nói mọi sách báo truyền thông hay những kiến thức mà em được nghe, đọc, và học thì chế độ VNCH là một chế độ tay sai của Mỹ, là chế độ phản động của mọi thời đại, là chế độ của những con người tàn bạo độc ác như giết dân, ăn thịt dân, giống như những con quỷ khát máu. Và dân tộc Việt Nam nhờ chính nghĩa là ĐCSVN với ánh sáng HCM soi rọi đã tiêu diệt những con quỷ VNCH để bắt thế hệ sau phải nhớ công lao to lớn mà ra sức phục vụ cho chế độ ĐCSVN này. Chính vì cái lối tuyên truyền giáo dục đó đã hằn sâu vào rất nhiều thế hệ về sự độc ác của chế độ VNCH. Có những sự kiện không đúng và không thật.

Chân Như: Cho đến nay, quan điểm, suy nghĩ của bạn về Việt Nam Cộng hòa có thay đổi gì hay không ? Nếu có thay đổi, thì do đâu ?

Minh Phúc: Ngày xưa ở trường hoặc trên TV hoặc trên báo người ta cũng miệt thị về VNCH. Em nghe vậy thôi cũng không phản ứng nhiều. Khi em học cấp 1, cấp 2 mỗi năm được trường dẫn đi thăm những viện bảo tàng chiến tranh rồi bảo tàng HCM cũng đều nêu những tội ác của Mỹ ngụy hồi xưa. Nói chung mình cảm thấy hơi kỳ kỳ tại vì sao chỉ đưa có 1 bên mình- phải nghe hết 2 bên. Hồi xưa suy luận của em là vậy. Cũng nhờ tìm hiểu trên internet cái suy nghĩ nó thay đổi hơn. Nói chung em không miệt thị bên CS nhưng thật sự khi biết được sự thật mình cảm thấy bị shock tại vì bất cứ ai cũng vậy đều ghét cái sự dối trá, mình rất là tức, nhiều lúc xem lại tin tức ngày xưa mình hơi bị tức cực đỉnh luôn.

Phương Dung: Lúc nhỏ khi em đọc những thông tin về VNCH về chế độ ngày xưa, khi nghe tuyên truyền như vậy thật sự lúc đó còn nhỏ chưa hiểu biết được nhiều, khi nghe như thế cũng hơi bức xúc- Tại sao người Việt với người việt mà chế độ VNCH họ lại ác như vậy, họ lại hành xử với nhau như vậy. Sau khi em tìm hiểu trên internet thì em biết được sự thật thì em cũng cảm thấy rất tức, vì mình bị dối trá. Bản thân em, em cũng rất ghét những điều dối trá và em đều mong muốn là những gì mình học trong lịch sử đều là sự thật. Đến nay suy nghĩ của em về VNCH đã thay đổi rất nhiều. Đối với em VNCH cũng là 1 quốc gia cũng là người Việt, những người lính VNCH xưa, những người yêu nước. Họ sống theo lý tưởng của riêng họ cũng giống như những người cộng sản sống theo lý tưởng riêng của người cộng sản. Chỉ có khác là mỗi chế độ và lý tưởng ở 2 miền khác nhau dẫn đến nội chiến 2 miền, mà người ta thường hay gọi là cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Đối với em cuộc chiến giữa VNCH và phe cộng sản Bắc việt là 1 cuộc chiến giữa 2 lý tưởng khác nhau chứ ko phải chiến tranh cứu nước như họ tuyên truyền gì cả. Em có những thay đổi nhận thức này là do sự tìm hiểu trên internet.

Sau khi em tìm hiểu trên internet thì em biết được sự thật thì em cũng cảm thấy rất tức, vì mình bị dối trá. Bản thân em, em cũng rất ghét những điều dối trá và em đều mong muốn là những gì mình học trong lịch sử đều là sự thật

Phương Dung

Lê Đông: Cũng như hai bạn thôi em cũng có những thay đổi khá nhiều. Dĩ nhiên, sự thay đổi này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân như nhờ internet, nhờ tiếp xúc với những con người VNCH hiện tại trong nước. Và đặc biệt nữa là hiện tình đất nước của VN ngày hôm nay dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN có sự nhiễu nhương, có gì đó bất ổn nên đã khiến em suy nghĩ rất nhiều về những chính sách và đường lối của ĐCS. Dưới con mắt em thì VNCH không như ĐCSVN tuyên truyền ngày trước. Họ cũng là một chính thể được công nhận rõ ràng. Và họ cũng không phải là độc ác ăn thịt dân như những gì sách báo hay những bịa đặt mà em học trước kia. Trong chính thể hiện tại thì họ là kẻ thất bại nên bị những kẻ chiến thắng đã vẽ đen. Do vậy, họ là nạn nhân và họ đáng cần được cái nhìn khách quan, trung thực hơn trong thời đại công nghệ internet ngày nay.

Chân Như: Các bạn đã bao giờ thử so sánh Việt Nam Cộng hòa với Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngoài Bắc trước 1975 và CHXHCN Việt Nam ngày nay hay chưa ?Nếu rồi thì các bạn thấy sự khác nhau thế nào ?

Lê Đông: Nếu đặt thời điểm hiện tại của chính quyền DCCH thì nó khác rất nhiều. Đơn cử như miền Nam trước năm 75 dưới chế độ của VNCH có một nền kinh tế, khoa học, giáo dục rất phát triển. Và em thấy mơ ước của chính quyền hiện tại đang muốn có đó là giáo dục được miễn phí, y tế được miễn phí; Những thành quả, những tài năng của mình được phục vụ một cách xứng đáng. Ngay từ thời điểm đó thì VNCH đã xây dựng lên một miền Nam đáng tự hào, thì đến ngày hôm nay phải nói rằng rất đáng khen và rất tự hào hơn những gì mà CHXHCN ngày nay làm và đang vẽ xấu họ (VNCH).

Minh Phúc: Nhiều lần em cũng có thử so sánh giữa chính quyền VNDCCH ngoài Bắc trước 1975 với CNXHVN ngày nay với VNCH cũng như lúc nãy bạn Đông có nói. Ngày xưa chính bà nội em, ông nội, ông ngoại cũng đã từng nói ngày xưa học sinh đi học không bị đóng tiền, nhiều khi được phát sữa uống mỗi sáng. Nhiều khi nhà một người đi làm là đủ nuôi cả nhà. Bây giờ thật sự (mà nói em mà có nói gian nữa lời thì xách súng bắn em cũng được. Em thề vậy luôn) cả gia đình 3 người đi làm hết mà có nhiều người không đủ ăn. Rồi xã hội ngày nay không chú ý đến đạo đức của con người, đạo đức đi xuống rất trầm trọng. Đơn giản thôi, cái gì cũng tiền hết. Mình vô bệnh viện khám bệnh hoặc là mình cấp cứu mà không có tiền, lạng quạng chết như chơi. Cách đây vài năm em bị tai nạn giao thông vô bệnh viện gia đình chưa đóng tiền kịp mình nằm đau đớn đợi cũng lâu, khi đóng tiền xong phải đút túi luồng tay này nọ. Bây giờ đi mua bán xe hay mua bán nhà đất cái giống gì cũng tiền với tiền. Họ không chú trọng cái tình người hay đạo đức như hồi xưa. Em bây giờ chỉ ước muốn cái đạo đức con người VN nó đỡ hơn bây giờ là em cũng cảm thấy mừng. Cũng như ông Lý Quang Diệu, thủ tướng Singapore hồi trước cũng chỉ mong là biết bao giờ Singapore mới bằng được VNCH của mình ngày xưa vậy thôi.

Phương Dung: Em chỉ có thể so sánh chiến tranh giữa VNCH và chính quyền VNDCCH ngày xưa cũng giống như chiến tranh giữa Bắc Hàn và Nam Hàn ngày xưa thôi. Một bên là theo chế độ chủ nghĩa tư bản có đồng minh là Mỹ và các quốc gia phương Tây. Một bên là theo chủ nghĩa cộng sản. Một bên thì giàu có, phát triển dân chủ tự do. Một bên là chịu sự tuyên truyền của nhà nước nghèo đói và lạc hậu.

Chân Như: Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt được 40 năm, các bạn có suy nghĩ gì về những người lính quân lực Việt Nam Cộng hòa khi xưa, đặc biệt là những người lính đã ngã xuống để bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 ?

Phương Dung: Em nghĩ những người lính VNCH xưa cũng là những người yêu nước. Họ chiến đấu hết mình để bảo vệ lãnh thổ và lý tưởng của họ. Em thấy thật bất công khi người ta lại nói lính VNCH là ngụy, là bán nước trong khi họ cũng là những anh hùng thật sự trong cuộc chiến bảo vệ đất nước giống như cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 chẳng hạn.

Bất cứ người lính bên nào cũng vậy cần được nhớ, cần được tri ân. Cũng như một câu hát ngày xưa của nhạc sĩ Trịnh Nam Ngân “rồi anh sẽ dìu em tìm thăm mộ bia kín trong nghĩa địa buồn, bạn anh đó đang say ngủ yên, xin cám ơn, xin cám ơn người nằm xuống

Minh Phúc

Lê Đông: Đối với em không riêng những người lính đã ngã xuống vì Hoàng Sa hay bất cứ ngã xuống vì một công cụôc bảo vệ tố quốc. Những con người đó phải được tri ân và ghi danh. Nhưng thực tế chế độ hiện tại đã không công bằng với những người lính VNCH. Ngay cả buổi tưởng niệm về họ nằm xuống vì Hoàng Sa năm 1974 hầu như ở trong nước đều cho là nhạy cảm và không được phép vinh danh. May mắn là sau những mâu thuẫn căng thẳng trên biển đông giữa VN và TQ và sự phát triển của internet, trong nước đã có những con người cổ vũ cho một nền dân chủ trong nước hơn thì họ đã phần nào đã tri ân những con người VNCH này và chế độ hiện tại cũng nới lỏng một phần nào để công bằng với họ hơn.

Minh Phúc: em cũng xin tóm tắt lại ý của em. Những người lính VNCH khi xưa đơn giản họ cũng chỉ là con người VN bình thường. Họ ra đi vì lý tưởng thiêng liêng cao cả của tổ quốc lúc đó. Em cũng xin nói thêm ở Bình An, Bình Dương có một nghĩa trang gọi là nghĩa trang nhân dân xã Bình An khi xưa là nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Em cũng biết cách đây khoảng trừng 1-2 năm gì đó đại sứ quán Mỹ có xuống họ cũng có chỉnh sửa này nọ. Thật sự đừng nhìn những gì họ làm hào nhoáng bên ngoài, họ sửa chữa bên ngoài thôi còn phía bên trong có nhiều ngôi mộ phải nói là đã mất bia, rồi khi mưa xuống phần mộ của người lính VNCH muốn trôi đi hết. Thỉnh thoảng, em cũng một năm vô 1-2 lần để em thăm viếng đốt nhang cho họ. Bất cứ người lính bên nào cũng vậy cần được nhớ, cần được tri ân. Cũng như một câu hát ngày xưa của nhạc sĩ Trịnh Nam Ngân “rồi anh sẽ dìu em tìm thăm mộ bia kín trong nghĩa địa buồn, bạn anh đó đang say ngủ yên, xin cám ơn, xin cám ơn người nằm xuống.

Xin cám ơn ba bạn Phương Dung, Lê Đông và Minh Phúc đã tham gia chia sẻ.

Bạn đang xem bài viết Nếu Việt Nam Cộng Hòa Còn Tồn Tại trên website Namtranpharma.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!