Xem Nhiều 2/2023 #️ Lạm Phát Và Giảm Phát Là Gì? Nguyên Nhân Cũng Như Hậu Quả # Top 4 Trend | Namtranpharma.com

Xem Nhiều 2/2023 # Lạm Phát Và Giảm Phát Là Gì? Nguyên Nhân Cũng Như Hậu Quả # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Lạm Phát Và Giảm Phát Là Gì? Nguyên Nhân Cũng Như Hậu Quả mới nhất trên website Namtranpharma.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Lạm phát là gì?

Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian. Đồng nghĩa với sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó. Khi đó với cùng một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với lúc trước.

Do đó lạm phát thể hiện sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ. Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác.

2. Giảm phát là gì?

Giảm phát là một hiện tượng ngược lại với lạm phát. Đây là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống liên tục. Cũng có thể nói giảm phát là lạm phát với tỷ lệ mang giá trị âm. Trong các tài liệu thống kê tình hình kinh tế chính thức, khi đề cập đến giảm phát, người ta vẫn đặt dấu âm kèm với con số ở mục tỷ lệ lạm phát. Tình trạng giảm phát thường xuất hiện khi kinh tế suy thoái hay đình đốn.

Nói chung giảm phát là một vấn đề lớn trong nền kinh tế hiện đại do nó làm tăng giá trị thật của nợ, có thể làm trầm trọng thêm suy thoái.

3. Ảnh hưởng của lạm phát và giảm phát

Lạm phát và giảm phát đều có những ảnh hưởng riêng của nó đối với nền kinh tế.

a. Lạm phát

Lạm phát ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập thực tế của người lao động. Thu nhập danh nghĩa tuy không thay đổi nhưng thu nhập thực tế lại giảm. Bởi lẽ, giá trị hàng hoá dịch vụ tăng cao, có nghĩa là với cùng một thu nhập, thì người lao động sẽ mua được ít hàng hoá hơn. Giá trị đồng tiền bị giảm dần. Do đó, thu nhập thực tế của người lao động bị giảm.

Giá trị đồng tiền giảm khi lạm phát tăng khiến lãi suất tăng lên. Vì thế người lao động sẽ có lợi trong việc vay trả vốn góp. Những việc này lại khiến tình trạng vơ vét hàng hóa và chờ đầu cơ làm mất cân bằng cung cầu trên thị trường. Tình trạng những người dân nghèo không có đủ hàng hóa để sử dụng trong cuộc sống hàng ngày càng phổ biến. Người giàu lại càng giàu có hơn làm rối loạn nền kinh tế, tạo ra thu nhập không bình đẳng.

Ở mức độ quốc gia, khi lạm phát tăng cao dẫn đến tỷ giá giá tăng. Cho nên đồng tiền trong nước mất giá hơn so với nước ngoài. Chính phủ được lợi từ nguồn tiền trong nước nhưng lại thiệt so với ngoại tệ làm tình trạng nợ quốc gia ngày một trầm trọng hơn.

b. Giảm phát

Đối nghịch với lạm phát giảm phát. Hiện tượng này làm giá trị hàng hoá giảm hoạt động kinh tế cũng ngưng trệ theo. Hộ gia đình hoãn chi tiêu chờ giảm giá sâu hơn, doanh nghiệp ngừng đầu tư và tuyển dụng nhằm tiết kiệm chi phí.

Giảm phát kéo dài cùng với lãi suất thấp kéo theo những hệ lụy như sản lượng đình đốn và suy thoái. Kỳ vọng giảm phát tạo ra lãi suất thực tăng gây ra suy thoái mở rộng. Suy thoái kéo dài và giảm phát liên tục làm cho chính sách tiền tệ mất tác dụng.

Với nền kinh tế vĩ mô, nếu giảm phát không được can thiệp kịp thời, nó sẽ trở nên ngày càng dai dẳng. Khi mà giá cả giảm, tình trạng thiếu việc làm và người tiêu dùng tích trữ tiền với dự đoán là giá cả còn giảm nữa thì điều này sẽ làm hại nền kinh tế, như kiểu truyền lực cho thói quen tiết kiệm và cứ thế xoáy xuống.

Việc giảm giá, nếu tồn tại, sẽ tạo ra một vòng xoáy xấu dẫn đến giảm lợi nhuận. Đóng cửa các nhà máy hàng loạt, thất nghiệp gia tăng. Giảm thu nhập và làm tăng việc vỡ nợ từ các khoản vay của công ty và cá nhân cũng là những hậu quả nặng nề từ giảm phát.

4. Lạm phát và giảm phát là tốt hay xấu?

Giảm phát và lạm phát là hai hiện tượng khá thường gặp trong trong một nền kinh tế. Ở một mức độ vừa phải nó có tác động tích cực đến thị trường. Tuy nhiên ở một mức độ cao thì cả lạm phát và giảm phát đều gây ra những hậu quả nặng nề như suy thoái, khủng hoảng kinh tế.

Lạm Phát Là Gì? Nguyên Nhân Nào Gây Sự Lạm Phát?

Lạm phát là gì? Nếu bạn thường xuyên theo dõi các tin tức về kinh tế, chính trị, bạn sẽ thường nghe đến cụm từ “lạm phát”. Đối với một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến lạm phát? Lạm phát ảnh hưởng như thế nào đến đời sống xã hội? Cùng tìm hiểu ngay:

Lạm phát là gì? Nguyên nhân gây lạm phát là gì?

Định nghĩa: Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định. Trong thời kỳ lạm phát, đồng tiền của một quốc giá sẽ bị mất giá trị hơn so với trước.

Khi mức giá hàng hóa tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa hơn so với trước đây. Vậy nên lạm phát cũng phản ánh sự suy giảm sức mua của đồng tiền.

Nếu so sánh nền kinh tế này với nền kinh tế khác, lạm phát được định nghĩa là sự giảm giá trị đồng tiền của quốc gia này so với đồng tiền của quốc gia khác.

Các mức độ lạm phát

Nếu bạn tự hỏi chúng ta đo lường lạm phát như thế nào, siêu lạm phát là gì, chỉ số lạm phát là gì… thì chúng tôi sẽ có câu trả lời cho bạn. Lạm phát có thể được phân loại thành 3 mức độ là:

Lạm phát tự nhiên (0 – 10%): Giá cả tăng khá chậm, lạm phát có thể dự đoán được và tăng 1 con số hàng năm.

Lạm phát phi mã (10 – < 1000%): Tỷ lệ lạm phát tăng nhanh từ 2 – 3 con số, thị trường kinh tế không ổn định, đồng tiền mất giá và lãi suất thực tế âm.

Những nguyên nhân dẫn đến lạm phát

Lạm phát do cầu kéo

Lạm phát do cầu kéo là tình trạng nhu cầu tiêu dùng của thị trường tăng lên với tốc độ nhanh bất thường. Nếu nhu cầu sử dụng một hàng hóa nào đó tăng quá nhanh, các doanh nghiệp sản xuất không kịp, thì giá của mặt hàng này sẽ tăng lên.

Lạm phát do chi phí đẩy

Chi phí đẩy của các doanh nghiệp là các yếu tố như giá nguyên liệu nhập vào, tiền lương, tiền bảo hiểm cho nhân viên, chi phí đầu tư cho máy móc, thiết bị, thuế… Trong trường hợp giá thàng của một (hoặc nhiều) yếu tố này tăng lên thì chi phí sản xuất cũng tăng lên.

Điều này bắt buộc doanh nghiệp phải tăng giá của hàng hóa mà họ sản xuất ra để đảm bảo lợi nhuận. Từ đó mức giá chung cũng tăng lên, dẫn dến tình trạng lạm phát.

Lạm phát do cơ cấu

Nếu doanh nghiệp thay đổi cơ cấu (có mức độ tăng trưởng tốt), họ thường tính đến phương án tăng tiền lương cho công – nhân viên. Ngoài ra, cũng có những doanh nghiệp tăng trưởng kém hoặc chậm, nhưng theo xư thế vẫn phải tăng lương cho người lao động.

Lúc nào, doanh nghiệp sẽ buộc phải tăng giá các hàng hóa của mình để thu lại lợi nhuận. Tình trạng này cũng dẫn đến lạm phát cho thị trường.

Lạm phát do cầu thay đổi

Nếu như trên thị trường xuất hiện một doanh nghiệp cung cấp độc quyền một loại sản phẩm không bao giờ giảm giá mà chỉ thấy tăng, thì giá của các hàng hóa, dịch vụ phụ thuộc vào sản phẩm đó cũng tăng theo (ví dụ như điện). Kết quả là giá thành chung tăng đồng thời làm phát sinh lạm phát.

Lạm phát do xuất khẩu

Nếu sản phẩm do doanh nghiệp trong nước sản xuất nhưng lại tập trung đem đi xuất khẩu cho các quốc gia khác thì cũng không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng trong nước. Từ đó dẫn đến giá sản phẩm tăng mạnh, lượng cung giảm và lượng cầu tăng và kết quả là lạm phát xuất hiện.

Lạm phát do nhập khẩu

Trong trường hợp giá của các hàng hóa được nhập khẩu quá cao, mà giá trị tiền tệ trong nước bị mất giá so với ngoại tệ thì người tiêu dùng phải sử dụng những hàng hóa đắt đỏ, dẫn đến lạm phát trong 1 quốc gia.

Lạm phát tiền tệ

Lạm phát tiền tệ là tình trạng xảy ra khi nguồn cung tiền tệ trong nước tăng quá cao. Các ngân hàng phải thực hiện chính sách mua ngoại tệ để tránh làm mất giá trị của đồng tiền trong nước. Hoặc nếu các ngân hàng mua công trái theo yêu cầu của nhà nước cũng góp phần làm cho lạm phát xuất hiện.

Tại thị trường Việt Nam, các nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát là tình trạng “lạm phát do cầu kéo” và “lạm phát do chi phí đẩy“.

Ảnh hưởng của lạm phát là gì?

Tiêu cực:

Lạm phát ảnh hưởng rất tiêu cực đến nền kinh tế, văn hóa, chính trị, có khả năng gây ra tình trạng suy thoái kinh tế, tăng tỷ lệ thất nghiệp.

+ Lãi suất: Lạm phát xảy ra làm lãi suất danh nghĩa tăng lên để lãi suất thực được ổn định nhưng cũng làm nảy sinh suy thoái kinh tế.

+ Thu nhập của người lao động: Khi thị trường lạm phát, tuy thu nhập danh nghĩa của người lao động không thay đổi nhưng thu nhập thực tế lại giảm. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động và cả doanh nghiệp.

+ Thu nhập không bình đẳng: Lạm pjast khiến tình trạng vơ vét hàng hóa và chờ đầu cơ làm mất cân bằng cung cầu trên thị trường. Kết quả là người nghèo không có đủ hàng hóa để sử dụng, người giàu lại càng ngày càng giàu, làm rối loạn nền kinh tế, tạo ra thu nhập không bình đẳng.

+ Nợ quốc gia: Các quốc gia đang phát triển thường có những khoản nợ nước ngoài. Nếu lạm phát xuất hiện sẽ làm tỷ giá hối đoái giá tăng, đồng tiền trong nước mất giá hơn so với nước ngoài. Phía chính phủ được lợi từ nguồn tiền nội địa, nhưng thiệt hại so với ngoại tệ, dẫn đến tình trạng nợ quốc gia càng trầm trọng hơn.

Tích cực

Khi tốc độ lạm phát tự nhiên được duy trì ổn định từ 2 – 5% thì tốc độ phát triển kinh tế của đất nước đó khá ổn định:

– Tỷ lệ thất nghiệp giảm, tiêu dùng tăng, vay nợ và đầu cơ an toàn hơn

– Chính phủ có thêm nhiều lựa chọn về công cụ kích thích đầu tư vào nội tệ.

Các phương án kiểm soát lạm phát

Việc kiểm soát lạm phát để bảo vệ kinh tế – xã hội luôn được các quốc gia đặt lên hàng đầu. Một số phương án kìm chế lạm phát phổ biến thường gặp đó là:

Tạm ngưng phát hành tiền để giảm lượng tiền đưa vào lưu thông trong xã hội.

Giảm chi ngân sách: Giảm chi tiêu thường xuyên và cắt giảm đầu tư công.

Tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng thông qua việc giảm thuế quan, khuyến khích tự do mậu dịch….

Giảm thuế

Tăng thuế tiêu dùng để giảm bớt nhu cầu chi tiêu cá nhân, tăng nguồn cung các hàng hóa – dịch vụ trong xã hội.

Tăng lãi suất tiền gửi, phát hành trái phiếu, giảm sức ép lên giá cả hàng hóa dịch vụ…

Thực hiện các chính sách thắt chặt tài chính như: cắt giảm chi tiêu, tạm hoãn những khoản chưa cần thiết, cân đối lại ngân sách nhà nước

Vay viện trợ từ nước ngoài…

Lạm Phát Là Gì? Những Tác Động Của Lạm Phát Đến Nền Kinh Tế

Nội dung bài viết (chọn nhanh)

Lạm phát là gì?

Lạm phát được hiểu là tình trạng giảm sức mua của đồng tiền do hiện tượng hàng hóa tăng giá so với một mốc thời gian nào đó trong quá khứ. Mốc thời gian này thường được so với 1 năm trước hoặc ngắn hơn. Hoặc có một định nghĩa khác rằng lạm phát tức là sự phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại ngoại tệ khác trong một nền kinh tế.

Người ta thường đo mức độ lạm phát từ việc thu thập dữ liệu của các tổ chức, liên đoàn lao động cũng như các loại tạp chí kinh doanh, từ đó theo dõi sự thay đổi của giá cả của một số lượng lớn hàng hóa và dịch vụ. Mức giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổng hợp lại với mục đích là thống nhất một mức giá trung bình và tỷ lệ lạm phát được thể hiện qua chỉ số giá cả.

(Chỉ số giá cả là tỷ lệ % mức tăng của giá trung bình của hiện tại với thời điểm được đem ra so sánh.)

Lạm phát được sinh ra do một số điều kiện cụ thể và mang tính liên tục với những đặc điểm như:

Lạm phát không phải một sự kiện ngẫu nhiên, sự tăng giá cả của hiện tượng này bắt đầu và tăng liên tục, đột ngột. Tuy nhiên cũng có một vài trường hợp sự tăng giá đột ngột không phải là lạm phát mà là sự biến động giá tương đối. Hiện tượng này chỉ xảy ra khi vấn đề cung, cầu không ổn định trong một thời gian ngắn. Tình trạng giá cả sẽ ổn định hơn khi cung tăng để đáp ứng được cầu. Còn lạm phát thì là sự tăng giá liên tục và không dừng lại ở mức độ ổn định.

Lạm phát là sự ảnh hưởng chung của tất cả các hàng hóa và dịch vụ của một nền kinh tế chứ không phải riêng một mặt hàng nào cả. Biến động giá tương đối chỉ là một hoặc hai hàng hóa cố định.

Lạm phát là hiện tượng lâu dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế của một quốc gia hoặc khu vực trong vài năm liền. Các quốc gia hiện đại đều tiến hành các vấn đề đo lường hàng năm để có thể hạn chế khả năng lạm phát thấp nhất có thể.

Lạm phát được chia thành 3 mức độ bao gồm:

Lạm phát tự nhiên (0 – 10%): Giá cả tăng khá chậm, lạm phát có thể dự đoán được và tăng 1 con số hàng năm.

Lạm phát phi mã (10 – < 1000%): Tỷ lệ lạm phát tăng nhanh từ 2 – 3 chữ số, thị trường tài chính không ổn định, đồng tiền mất giá và lãi suất thực tế âm.

Các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển thường kỳ vọng mức lạm phát tự nhiên dưới 5% bởi nếu tăng trưởng kinh tế kỳ vọng khoảng 10%, tiền mất giá khoảng 5% thì quốc gia đó có 5% tăng trưởng thực sự.

Cầu kéo là hiện tượng nhu cầu về sử dụng một loại mặt hàng nào đó tăng lên dẫn đến giá cả tăng kéo theo giá của nhiều loại hàng hóa khác cũng tăng. Ví dụ như trong mùa dịch Corona, nhu cầu mua các loại khẩu trang, dung dịch rửa tay tăng lên khiến giá cả các loại mặt hàng này tăng lên nhanh chóng. Theo đó giá của các loại thực phẩm hàng ngày cũng tăng theo dẫn đến lạm phát.

Lạm phát do cầu kéo

Chi phí đẩy được hiểu là các vấn đề chi tiêu của một doanh nghiệp như đầu tư vào các loại máy móc, thuế, trả tiền lương cho nhân viên, đóng thuế… Giá cả của một vài yếu tố tăng lên dẫn đến tổng chi phí của doanh nghiệp tăng, công ty cần phải tăng giá các mặt hàng lên nhằm đảm bảo lợi nhuận. Nhưng điều này đã dẫn đến mức giá chung của các mặt hàng trong nền kinh tế tăng lên.

Trong một nhóm ngành kinh tế hoạt động không có hiệu quả thì doanh nghiệp vẫn phải bắt buộc tăng lương cho người lao động do xu thế của thị trường là tăng dần tiền công danh nghĩa. Song song với việc đó, doanh nghiệp bắt buộc phải tăng giá thành sản phẩm để đảm bảo lợi nhuận dẫn đến phát sinh lạm phát.

Lạm phát do cơ cấu

Một thị trường ổn định tức là lượng cung và lượng cầu tương đương nhau. Lạm phát có thể xuất hiện do cầu thay đổi khi trên thị trường khi xuất hiện mặt hàng có tính chất cứng nhắc chi có tăng giá nhưng không có giảm. Khi nhu cầu sử dụng mặt hàng đó giảm nhưng vẫn không có dấu hiệu giảm giá, mặt hàng khác lại tăng giá dẫn đến mức giá chung tăng. Chúng ta có một ví dụ điển hình là giá điện ở Việt Nam.

Tổng cầu sẽ tăng lên do xuất khẩu phát triển nhưng tổng cung vẫn chưa đáp ứng được. Việc liên tục thu gom các sản phẩm hàng hóa để phục vụ xuất khẩu khiến mặt hàng trong nước giảm làm tổng cung nhỏ hơn tổng cầu làm mất cân bằng và xuất hiện hiện tượng lạm phát.

Lạm phát do xuất khẩu

Ngược lại với xuất khẩu, hiện tượng giá cả nhập khẩu tăng làm cho giá bán sản phẩm nhập khẩu cũng tăng dẫn đến lạm phát.

Lạm phát tiền tệ thường bắt nguồn từ ngân hàng, khi lượng tiền lưu hành trong nước tăng cũng rất dễ gây ra hiện tượng lạm phát. Ví dụ như ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để không làm mất giá nội tệ hoặc ngân hàng mua công trái theo yêu cầu của nhà nước làm lượng tiền lưu thông tăng lên.

Lạm phát tiền tệ

Lãi suất: Lạm phát ảnh hưởng rất tiêu cực đến nền kinh tế , chính trị, văn hóa, nó có khả năng gây ra tình trạng suy thoái kinh tế, tăng tỷ lệ thất nghiệp. Tác động đầu tiên của lạm phát là lãi suất khiến lãi suất danh nghĩa tăng lên để lãi suất thực được ổn định nhưng cũng khiến suy thoái kinh tế bắt đầu phát triển.

Thu nhập thực tế của người lao động: Khi xuất hiện lạm phát, thu nhập danh nghĩa của người lao động không thay đổi, tuy nhiên thu nhập thực tế lại giảm. Bởi lẽ thu nhập ròng của người lao động sẽ bằng thu nhập danh nghĩa của chữ tỷ lệ lạm phát bị giảm. Đó không chỉ là vấn đề của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động cũng như lòng tin của họ đối với Chính Phủ.

Thu nhập không bình đẳng: Giá trị đồng tiền giảm khi lạm phát tăng khiến lãi suất tăng lên, người lao động sẽ có lợi trong việc vay trả vốn góp. Những việc này lại khiến tình trạng vơ vét hàng hóa và chờ đầu cơ làm mất cân bằng cung cầu trên thị trường. Tình trạng những người dân nghèo không có đủ hàng hóa để sử dụng trong cuộc sống hàng ngày càng phổ biến, người giàu lại càng giàu có hơn làm rối loạn nền kinh tế, tạo ra thu nhập không bình đẳng.

Nợ quốc gia: Các quốc gia đang phát triển sẽ có những khoản nợ nước ngoài, khi lạm phát tăng cao dẫn đến tỷ giá giá tăng, đồng tiền trong nước mất giá hơn so với nước ngoài. Chính phủ được lợi từ nguồn tiền trong nước nhưng lại thiệt so với ngoại tệ làm tình trạng nợ quốc gia ngày một trầm trọng hơn.

Lạm phát ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế và đời sống

Tích cực

Mặc dù lạm phát đem đến khá nhiều tiêu cực cho đời sống sinh hoạt cũng như nền kinh tế, chính trị của một quốc gia, tuy nhiên nó cũng có khá nhiều lợi ích như. Khi tốc độ lạm phát tự nhiên được duy trì ổn định từ 2 – 5% thì tốc độ phát triển kinh tế của đất nước đó khá ổn định. Cụ thể là:

– Tỷ lệ thất nghiệp giảm, tiêu dùng tăng, vay nợ và đầu cơ an toàn hơn

– Chính phủ có thêm nhiều lựa chọn về công cụ kích thích đầu tư vào nội tệ.

Việc một đất nước duy trì lạm phát ở mức ổn định là rất khó, đặc biệt là với những quốc gia đang trong giai đoạn phát triển như Việt Nam.

Mỗi quốc gia đề có phương pháp đo lường khác nhau, tuy nhiên phương pháp đo lường lạm phát được áp dụng chủ yếu dựa theo hệ số giảm phát GDP. Giảm phát GDP là sự so sánh giá trị tăng hoặc giảm giá của tất cả các loại hàng hóa hoặc dịch vụ giữa GDP hiện hành với kỳ trước.

Nhìn chung, khi tính toán lạm phát trong một giai đoạn, giá cả mặt hàng trung bình tăng thì là lạm phát, giá chung giảm thì là giảm phát.

Khi xuất hiện tình trạng lạm phát, Chính Phủ sẽ có phương án giảm bớt lượng tiền lưu thông trên thị trường bao gồm:

– Ngừng phát hành tiền

– Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc

– Nâng lãi suất tiền gửi và lãi suất tái chiết khấu

– Áp dụng nghiệp vụ thị trường mở bán chứng từ có giá trị cho các ngân hàng thương mại

– Ngân hàng trung ương bán ngoại tệ cũng như vàng cho các ngân hàng thương mại.

– Giảm chi ngân sách

– Tăng thuế tiêu dùng.

Chính sách tài khóa và giảm bớt lượng tiền tệ lưu thông là phương án tối ưu để giảm lạm phát

Ngoài ra, ngân hàng trung ương và Chính Phủ sẽ đưa ra nhiều ưu đãi về tín dụng trong các lĩnh vực sản xuất để làm giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động. Bộ tài chính có thể yêu cầu tổng cục thuế giảm thuế trong việc nhập khẩu nguyên vật liệu, thuế đầu tư, thuế thu nhập doanh nghiệp… để có thể giảm bớt chi phí đầu vào. Tất cả những hoạt động trên đều kích thích năng suất lao động được hiệu quả hơn.

Giảm Phát: Tốt Hay Xấu

Giảm phát: tốt hay xấu

Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

Bài 35:

Giảm phát: tốt hay xấu

Đến tháng 8/2003, chỉ số CPI của Việt Nam đã giảm liên tục trong 4 tháng. Mọi người đều nói “giảm phát”. Thực ra khái niệm giảm phát đã xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam từ năm 2000. Về trực giác, người tiêu dùng thích giảm phát nhưng người sản xuất lại chẳng ưa gì. Thực chất thì giảm phát là tốt hay xấu ?

Giảm phát tốt xảy ra khi môi trường kinh doanh cởi mở hơn, các mức giá bị các nhà độc quyền đẩy lên cao nay phải giảm dưới áp lực cạnh tranh. Một tình huống tốt khác là trong thị trường tự do, những người sản xuất với năng suất cao hơn sẽ vươn lên, giá thành sản phẩm sẽ giảm xuống, giá hàng giảm làm người tiêu dùng mua nhiều hơn, và kết quả là giá thành mỗi đơn vị sản phẩm càng giảm.

Giảm phát không tốt xảy ra khi giá giảm nhưng số hàng bán không tăng. Các công ty phải giảm quy mô sản xuất và thải bớt nhân công. Trước nguy cơ mất việc, mọi người sẽ tiết kiệm nhiều hơn và chi tiêu ít hơn. Kết quả là giảm phát trở nên trầm trọng.

Dạng giảm phát tồi tệ hơn khi các doanh nghiệp kém hiệu quả được trợ giá để tiếp tục hoạt động. Để cạnh tranh với các doanh nghiệp này, các công ty khỏe mạnh phải hạ giá bán và chẳng mấy chốc cũng trở nên ốm yếu.

Giảm phát là tồi tệ nhất khi quá nhiều vốn và vốn vay ào ạt đổ vào một cách lạc quan, làm cho cung vượt xa cầu. Hàng không bán được nhưng nợ vẫn phải trả, cả các công ty tốt cũng có nguy cơ phá sản.

Việt Nam ở đâu trong những tình huống tốt và xấu nêu trên? Chỉ số CPI của ta dựa nhiều vào giá lương thực và nông sản. Những năm gần đây, giá nông sản trên thế giới giảm do dư cung, ví dụ như gạo, cà phê, tiêu v.v… Nông dân ở Indonesia, Braxin và Việt Nam chẳng thể làm gì ngoài việc chờ xem ai sẽ phải chặt bỏ cà phê trước. Họ không trách nhau, nhưng chê các chính phủ đã chẳng giúp họ những thông tin và dự báo chính xác

English:

Deflation: good or bad

Until August 2003, the CPI of Vietnam has been decreased for four consecutive months. Everyone says “deflation”. In fact, the concept of deflation appeared in Vietnam for the first time in 2000. Intuitionally, consumers love deflation but producers hate it. Overall, is it good or bad?

Good deflation happens when the business environment becomes more open, high prices set by monopolists are reduced under competition. Another good scenario occurs due to free market. In that environment, producers with better productivity will thrive, cost of production becomes lower, price is down, consumers purchase more, and in turn, the unit cost of production goes further down.

Bad deflation happens when prices are down but unit sales are not up. Firms have to reduce the production scale and lay off workers. Facing higher job uncertainty, consumers will save more and spend less. Then deflation can become severer.

The worse deflation may occur when inefficient firms are subsidized to stay in business. In order to compete with these firms, healthy ones will have to lower their prices and will soon get sick, too.

The worst deflation occurs when too much loans and capital optimistically rush in, causing supply move far ahead of demand. Products cannot be sold but loans are still due and bankruptcy may occur, even to the good firms.

So where is Vietnam deflation among the above good and bad scenarios? Our CPI is based heavily on foods and agriculture products. In recent years, the world prices of agriculture products were down because of excess supply, such as the supply of rice, coffee, pepper, etc. Farmers in Indonesia, Brazil, and Vietnam could do nothing but wait for each other to chop down coffee trees. Instead of denouncing each other, they criticize government for failing to support them with proper information and forecasting.

(Đường dẫn tới các bài trước được đăng trong mục Tin bài khác bên dưới)

Bạn đang xem bài viết Lạm Phát Và Giảm Phát Là Gì? Nguyên Nhân Cũng Như Hậu Quả trên website Namtranpharma.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!