Xem Nhiều 1/2023 #️ Lạm Phát Có Ảnh Hướng Như Thế Nào Đến Một Nhà Đầu Tư? # Top 10 Trend | Namtranpharma.com

Xem Nhiều 1/2023 # Lạm Phát Có Ảnh Hướng Như Thế Nào Đến Một Nhà Đầu Tư? # Top 10 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Lạm Phát Có Ảnh Hướng Như Thế Nào Đến Một Nhà Đầu Tư? mới nhất trên website Namtranpharma.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trong đầu tư hai chữ “Lạm Phát” là một yếu tố được rất nhiều người quan tâm bởi nó ảnh hướng đến rất nhiều những kết quả dự đoán trong tương lại của mỗi nhà đầu tư. Đối với những mục tiêu tài chính dài hạn như việc nghỉ hưu hay để dành tiền cho những mục tiêu sau này, lạm phát có thể phá hỏng mọi thứ. Tiền của bạn sẽ ngày càng mất giá với thực tế trong tương lai. Đối với nhiều người thì việc đầu tư tiền vào chứng khoán, cổ phiếu là cách tốt nhất để theo kịp lạm phát. Vì cổ phiế có thể tăng hoặc giảm giá trị bất cứ lúc nào, chú ng là những khoản đầu tư nguy hiểm nhưng cũng mang lại tiềm năng lợi nhuận cao nhất và luôn vượt qua được lạm phát .Trong một nền kinh tế, khi xảy ra lạm phát thì làm cho khu vực đó có một cuộc sống rất khó khăn, và điển hình cho sự lạm phát là đất nước Venezuela, tại đó đang bị siêu lạm phát lên tới 1.000.000%, và khi mua một đồ dùng cơ bản như bánh mì, kem đánh răng thì phải mang cả bao tải tiền đi mới đủ đề mua chúng.

Lạm phát là sự tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ. Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác. Phạm vi ảnh hưởng là một vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn định giá cả.

Lạm phát tự nhiên: 0 – dưới 10%

Lạm phát phi mã: 10% đến dưới 1000%

Trên thực tế, các quốc gia chỉ kỳ vọng lạm phát chỉ xảy ra khoảng 5% trở xuống là con số lý tưởng.

Thuật ngữ lạm phát ban đầu được sử dụng để chỉ sự gia tăng số lượng tiền trong lưu thông, và hiện nay một số nhà kinh tế vẫn sử dụng từ này theo cách này. Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế hiện nay đều sử dụng thuật ngữ lạm phát để chỉ một sự gia tăng trong mức giá. Sự gia tăng cung tiền có thể được gọi là lạm phát tiền tệ, để phân biệt với sự tăng giá cả, mà cũng có thể được gọi cho rõ ràng là lạm phát giá cả.

Giảm phát: Là sự sụt giảm trong mức giá chung.

Thiểu phát: Là làm giảm tỷ lệ lạm phát.

Siêu lạm phát: Là một vòng xoáy lạm phát ngoài tầm kiểm soát.

Tình trạng lạm phát: Là một sự kết hợp của lạm phát, tăng trưởng kinh tế chậm và thất nghiệp cao.

Tái lạm phát: Là một sự nỗ lực nâng cao mức giá chung để chống lại áp lực giảm phát.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, trong đó “lạm phát do cầu kéo và lạm phát do chi phí đẩy được coi là hai nguyê nhân chính. Cân đối thu chi là việc làm cần thiết để tránh khỏi lạm phát khi xảy ra. Chi tiết các nguyên nhân:

Khi nhu cầu của thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó. Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó mà leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường. Lạm phát do sự tăng lên về cầu được gọi là lạm phát do cầu kéo. VD: Như giá xăng tăng lên, kéo theo rất nhiều sản phẩm khác tăng theo như giá cước Taxi, giá hoa quả…

Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các doanh nghiệp chắc chắn cũng tăng lên, vì thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận và như thế là mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng sẽ tăng.

Với ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tăng dần tiền công danh nghĩa cho người lao động. Nhưng cũng có những nhóm ngành kinh doanh không hiệu quả, các doanh nghiệp cũng theo xu thế đó buộc phải tăng tiền công cho người lao động. Nhưng vì những doanh nghiệp này kinh doanh kém hiệu quả, nên khi phải tăng tiền công cho người lao động, các doanh nghiệp này buộc phải tăng giá thành sản phẩm để đảm bảo mức lợi nhuận và làm phát sinh lạm phát.

Khi thị trường đang giảm nhu cầu tiêu thụ về một mặt hàng nào đó, sẽ dẫn đến lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên. Và nếu thị trường có người cung cấp độc quyền về giá cả có tính chất cứng nhắc, chỉ có thể tăng mà không thể giảm, như giá điện ở Việt Nam, thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.

Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu khiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm sẽ khiến tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu. Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinh lạm phát.

Khi cung lượng tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát.

Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế, thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh…

Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một chỉ số giá cả đo mức giá cả trung bình, là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm. Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số này.

Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất cho chỉ số lạm phát vì giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện.

Hiện nay, thước đo lạm phát phổ biến nhất chính là chỉ số giá tiêu dùng CPI – Consumer Price Index là chỉ số đo giá cả của một số lượng lớn các loại hàng hóa và dịch vụ, bao gồm thực phẩm, lương thực, chi trả cho các dịch vụ y tế… được mua bởi người tiêu dùng thông thường.

Ví dụ: Vào tháng 1 năm 2016, chỉ số giá tiêu dùng CPI của Mỹ là 202,416 USD; và vào tháng 1 năm 2017 thì chỉ sổ CPI là là 211,080 USD. Sử dụng công thức để tính toán tỷ lệ phần trăm lạm phát hàng năm bằng chỉ số CPI trong suốt năm 2017 là: Từ đó ta ra kết quả là tỷ lệ lạm phát đối với CPI trong khoảng thời gian một năm này là 4,28%, có nghĩa là mức giá chung cho người tiêu dùng điển hình của Mỹ trong 2017 đã tăng khoảng hơn 4% so với năm 2016.

Lạm phát ảnh hưởng đến các nền kinh tế theo nhiều cách tích cực và tiêu cực khác nhau. Trong đó:

Kích thích tiêu dùng, vay nợ, đầu tư, giảm bớt thất nghiệp trong xã hội.

Cho phép chính phủ có thêm khả năng lựa chọn các công cụ kích thích đầu tư vào những lĩnh vực kém ưu tiên thông qua mở rộng tín dụng, giúp phân phối lại thu nhập và các nguồn lực trong xã hội theo các định hướng mục tiêu và trong khoảng thời gian nhất định có chọn lọc. Tuy nhiên, đây là công việc khó và đầy mạo hiểm nếu không chủ động thì sẽ gây nên hậu quả xấu.

Lạm phát ở mức độ vừa phải sẽ kích thích việc cho vay tiêu dùng, mua sắm,…

Có nhiều phương pháp và chính sách đã và đang được sử dụng để kiểm soát lạm phát. Bao gồm:

+ Giảm lượng tiền giấy lưu thông để giảm bớt lượng nhàn rỗi dư thừa

+ Giảm sức ép lên giá cả, hàng hóa dịch vụ…

+ Thi hành chính sách tài chính thắt chặt

+ Tạm hoãn các khoản chưa chưa cần thiết.

+ Cân đối lại ngân sách Nhà nước.

+ Tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng để cân đối với số lượng tiền có trong lưu thông

+ Khuyến khích tự do mậu dịch.

+ Các biện pháp hàng hóa từ ngoài vào.

+ Đi vay viện trợ nước ngoài và cải cách tiền tệ

Cách Đo Lường Và Quản Lý Lạm Phát Thế Nào?

“Tại sao Lạm phát lại là như một kẻ phá hoại”

Lạm phát làm giảm sức mua của từng đơn vị tiền tệ, làm tăng giá hàng hóa và dịch vụ theo thời gian. Đó là một thuật ngữ kinh tế có nghĩa là bạn phải chi nhiều hơn để đổ đầy bình xăng, mua một lít sữa hoặc cắt tóc. Nói cách khác, nó làm tăng chi phí sinh hoạt của bạn.

Lạm phát của Hoa Kỳ đã làm giảm giá trị của đồng đô la. So sánh giá trị của đồng đô la ngày hôm nay với giá trị của đồng đô la trong quá khứ. Vì vậy, khi giá tăng, tiền của bạn mua ít hơn. Vì lý do đó, nó có thể làm giảm mức sống của bạn theo thời gian.

Đó là lý do tại sao Tổng thống Ronald Reagan đã nói, “Lạm phát như một kẻ phá hoại, đáng sợ như một tên cướp có vũ trang, và chết người như một kẻ bị đánh.”

Bài học rút ra từ lạm phát chính là

Lạm phát tồn tại khi giá cả tăng nhưng sức mua giảm trong một thời kỳ nhất định.

Cầu, cung và kỳ vọng về hàng hóa ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát.

Cục Dự trữ Liên bang sử dụng chính sách tiền tệ để quản lý lạm phát.

Bạn có thể bảo vệ mình khỏi lạm phát thông qua các khoản đầu tư khôn ngoan.

Tỷ lệ lạm phát

Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm tăng hoặc giảm giá trong một thời kỳ xác định, thường là một tháng hoặc một năm. Tỷ lệ phần trăm cho bạn biết giá đã tăng nhanh như thế nào trong thời gian này. Ví dụ, nếu tỷ lệ lạm phát đối với một gallon khí đốt là 2% mỗi năm, thì giá khí đốt sẽ cao hơn 2% trong năm tới

Điều đó có nghĩa là một gallon khí đốt có giá 2,00 đô la năm nay sẽ có giá 2,04 đô la vào năm sau.

Nếu tỷ lệ lạm phát cao hơn 50% trong một tháng, đó là siêu lạm phát. Nếu lạm phát xảy ra cùng lúc với suy thoái, đó là lạm phát đình trệ.3 Giá cả tài sản như nhà ở, vàng hoặc cổ phiếu tăng được gọi là lạm phát tài sản.

Tỷ lệ lạm phát là một thành phần quan trọng của chỉ số khốn khó, là một chỉ số kinh tế giúp xác định sức khỏe tài chính trung bình của một công dân. Thành phần khác là tỷ lệ thất nghiệp. Khi chỉ số khốn khó cao hơn 10%, điều đó có nghĩa là mọi người đang phải chịu suy thoái, lạm phát phi mã hoặc cả hai.5 6 Nói cách khác, lạm phát hoặc thất nghiệp lớn hơn 10%.

Nguyên nhân dẫn đến lạm phát

Có hai nguyên nhân gây ra lạm phát. Phổ biến nhất là lạm phát do cầu kéo. Đó là khi cầu vượt cung đối với hàng hóa hoặc dịch vụ. Người mua muốn sản phẩm đến mức họ sẵn sàng trả giá cao hơn.

Lạm phát do chi phí đẩy là nguyên nhân thứ hai, ít phổ biến hơn. Đó là khi nguồn cung bị hạn chế nhưng nhu cầu thì không. Điều đó xảy ra sau khi cơn bão Katrina làm hỏng các đường cung cấp khí đốt. Nhu cầu về xăng không thay đổi, nhưng hạn chế về nguồn cung đã làm tăng giá lên 5 đô la một gallon.8

Một số nguồn tin nói rằng sự gia tăng cung tiền cũng gây ra lạm phát. 9 Đó là cách hiểu sai về lý thuyết trọng tiền. Nó nói rằng nguyên nhân chính của lạm phát là do chính phủ in ra quá nhiều tiền. Kết quả là, vốn quá nhiều lại kéo theo quá ít hàng hóa. Nó tạo ra lạm phát bằng cách kích hoạt lạm phát do cầu kéo hoặc do chi phí đẩy.

Một số người cũng coi lạm phát tích hợp là nguyên nhân thứ ba. 10 Yếu tố này dẫn đến kỳ vọng của mọi người về lạm phát trong tương lai. Khi giá cả tăng, lao động mong đợi mức tăng lương để theo kịp. Nhưng tiền lương cao hơn làm tăng chi phí sản xuất, làm tăng giá hàng hóa và dịch vụ một lần nữa. Khi nguyên nhân và kết quả này tiếp tục, nó sẽ trở thành vòng xoáy tiền lương – giá cả.

Lạm phát và chỉ số CPI

Tỷ lệ lạm phát Hoa Kỳ (2006 – 2019)

Một số nguồn nói sai có sự khác biệt giữa lạm phát và CPI. Nhưng không có sự khác biệt. 13

Chỉ số CPI là một công cụ đo lường lạm phát. Nó không phải là một dạng lạm phát khác.

Chỉ số giá Chi tiêu cho Tiêu dùng Cá nhân cũng đo lường lạm phát.14 Nó bao gồm nhiều hàng hóa và dịch vụ kinh doanh hơn chỉ số CPI. Ví dụ, nó bao gồm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe do bảo hiểm y tế chi trả. CPI chỉ bao gồm các hóa đơn y tế do người tiêu dùng trực tiếp thanh toán.

Cách các ngân hàng trung ương quản lý lạm phát

Các ngân hàng trung ương trên khắp thế giới sử dụng chính sách tiền tệ để tránh lạm phát và ngược lại, giảm phát. Tại Hoa Kỳ, Cục Dự trữ Liên bang đặt mục tiêu tỷ lệ lạm phát mục tiêu là 2% so với cùng kỳ năm ngoái.15

Vào ngày 27 tháng 8 năm 2020, FOMC thông báo họ sẽ cho phép tỷ lệ lạm phát mục tiêu hơn 2% nếu điều đó sẽ giúp đảm bảo việc làm tối đa. Nó vẫn tìm kiếm mức lạm phát 2% theo thời gian nhưng sẵn sàng cho phép tỷ lệ cao hơn nếu lạm phát đã ở mức thấp trong một thời gian.

Fed sử dụng tỷ lệ lạm phát cốt lõi để loại bỏ giá năng lượng và thực phẩm. Những mức giá này do các nhà kinh doanh hàng hóa đặt ra và quá dễ biến động để xem xét.

Cách bảo vệ bản thân khỏi lạm phát

Một cách để bảo vệ khoản tiết kiệm của bạn là đầu tư vào thị trường chứng khoán. Nó đã hoàn lại khoảng 10% các khoản đầu tư theo thời gian.16

Liệu nó có làm như vậy trong tương lai hay không vẫn chưa được biết và có rủi ro.

Chú ý: Như mọi khi, hãy tham khảo ý kiếncủa người lập kế hoạch tài chính của bạn trước khi đưa ra bất kỳ quyết định tài chính nào để đảm bảo điều này phù hợp với mục tiêu của bạn.

Lạm Phát Là Gì? Những Tác Động Của Lạm Phát Đến Nền Kinh Tế

Nội dung bài viết (chọn nhanh)

Lạm phát là gì?

Lạm phát được hiểu là tình trạng giảm sức mua của đồng tiền do hiện tượng hàng hóa tăng giá so với một mốc thời gian nào đó trong quá khứ. Mốc thời gian này thường được so với 1 năm trước hoặc ngắn hơn. Hoặc có một định nghĩa khác rằng lạm phát tức là sự phá giá đồng tiền nội tệ so với các loại ngoại tệ khác trong một nền kinh tế.

Người ta thường đo mức độ lạm phát từ việc thu thập dữ liệu của các tổ chức, liên đoàn lao động cũng như các loại tạp chí kinh doanh, từ đó theo dõi sự thay đổi của giá cả của một số lượng lớn hàng hóa và dịch vụ. Mức giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổng hợp lại với mục đích là thống nhất một mức giá trung bình và tỷ lệ lạm phát được thể hiện qua chỉ số giá cả.

(Chỉ số giá cả là tỷ lệ % mức tăng của giá trung bình của hiện tại với thời điểm được đem ra so sánh.)

Lạm phát được sinh ra do một số điều kiện cụ thể và mang tính liên tục với những đặc điểm như:

Lạm phát không phải một sự kiện ngẫu nhiên, sự tăng giá cả của hiện tượng này bắt đầu và tăng liên tục, đột ngột. Tuy nhiên cũng có một vài trường hợp sự tăng giá đột ngột không phải là lạm phát mà là sự biến động giá tương đối. Hiện tượng này chỉ xảy ra khi vấn đề cung, cầu không ổn định trong một thời gian ngắn. Tình trạng giá cả sẽ ổn định hơn khi cung tăng để đáp ứng được cầu. Còn lạm phát thì là sự tăng giá liên tục và không dừng lại ở mức độ ổn định.

Lạm phát là sự ảnh hưởng chung của tất cả các hàng hóa và dịch vụ của một nền kinh tế chứ không phải riêng một mặt hàng nào cả. Biến động giá tương đối chỉ là một hoặc hai hàng hóa cố định.

Lạm phát là hiện tượng lâu dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế của một quốc gia hoặc khu vực trong vài năm liền. Các quốc gia hiện đại đều tiến hành các vấn đề đo lường hàng năm để có thể hạn chế khả năng lạm phát thấp nhất có thể.

Lạm phát được chia thành 3 mức độ bao gồm:

Lạm phát tự nhiên (0 – 10%): Giá cả tăng khá chậm, lạm phát có thể dự đoán được và tăng 1 con số hàng năm.

Lạm phát phi mã (10 – < 1000%): Tỷ lệ lạm phát tăng nhanh từ 2 – 3 chữ số, thị trường tài chính không ổn định, đồng tiền mất giá và lãi suất thực tế âm.

Các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển thường kỳ vọng mức lạm phát tự nhiên dưới 5% bởi nếu tăng trưởng kinh tế kỳ vọng khoảng 10%, tiền mất giá khoảng 5% thì quốc gia đó có 5% tăng trưởng thực sự.

Cầu kéo là hiện tượng nhu cầu về sử dụng một loại mặt hàng nào đó tăng lên dẫn đến giá cả tăng kéo theo giá của nhiều loại hàng hóa khác cũng tăng. Ví dụ như trong mùa dịch Corona, nhu cầu mua các loại khẩu trang, dung dịch rửa tay tăng lên khiến giá cả các loại mặt hàng này tăng lên nhanh chóng. Theo đó giá của các loại thực phẩm hàng ngày cũng tăng theo dẫn đến lạm phát.

Lạm phát do cầu kéo

Chi phí đẩy được hiểu là các vấn đề chi tiêu của một doanh nghiệp như đầu tư vào các loại máy móc, thuế, trả tiền lương cho nhân viên, đóng thuế… Giá cả của một vài yếu tố tăng lên dẫn đến tổng chi phí của doanh nghiệp tăng, công ty cần phải tăng giá các mặt hàng lên nhằm đảm bảo lợi nhuận. Nhưng điều này đã dẫn đến mức giá chung của các mặt hàng trong nền kinh tế tăng lên.

Trong một nhóm ngành kinh tế hoạt động không có hiệu quả thì doanh nghiệp vẫn phải bắt buộc tăng lương cho người lao động do xu thế của thị trường là tăng dần tiền công danh nghĩa. Song song với việc đó, doanh nghiệp bắt buộc phải tăng giá thành sản phẩm để đảm bảo lợi nhuận dẫn đến phát sinh lạm phát.

Lạm phát do cơ cấu

Một thị trường ổn định tức là lượng cung và lượng cầu tương đương nhau. Lạm phát có thể xuất hiện do cầu thay đổi khi trên thị trường khi xuất hiện mặt hàng có tính chất cứng nhắc chi có tăng giá nhưng không có giảm. Khi nhu cầu sử dụng mặt hàng đó giảm nhưng vẫn không có dấu hiệu giảm giá, mặt hàng khác lại tăng giá dẫn đến mức giá chung tăng. Chúng ta có một ví dụ điển hình là giá điện ở Việt Nam.

Tổng cầu sẽ tăng lên do xuất khẩu phát triển nhưng tổng cung vẫn chưa đáp ứng được. Việc liên tục thu gom các sản phẩm hàng hóa để phục vụ xuất khẩu khiến mặt hàng trong nước giảm làm tổng cung nhỏ hơn tổng cầu làm mất cân bằng và xuất hiện hiện tượng lạm phát.

Lạm phát do xuất khẩu

Ngược lại với xuất khẩu, hiện tượng giá cả nhập khẩu tăng làm cho giá bán sản phẩm nhập khẩu cũng tăng dẫn đến lạm phát.

Lạm phát tiền tệ thường bắt nguồn từ ngân hàng, khi lượng tiền lưu hành trong nước tăng cũng rất dễ gây ra hiện tượng lạm phát. Ví dụ như ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để không làm mất giá nội tệ hoặc ngân hàng mua công trái theo yêu cầu của nhà nước làm lượng tiền lưu thông tăng lên.

Lạm phát tiền tệ

Lãi suất: Lạm phát ảnh hưởng rất tiêu cực đến nền kinh tế , chính trị, văn hóa, nó có khả năng gây ra tình trạng suy thoái kinh tế, tăng tỷ lệ thất nghiệp. Tác động đầu tiên của lạm phát là lãi suất khiến lãi suất danh nghĩa tăng lên để lãi suất thực được ổn định nhưng cũng khiến suy thoái kinh tế bắt đầu phát triển.

Thu nhập thực tế của người lao động: Khi xuất hiện lạm phát, thu nhập danh nghĩa của người lao động không thay đổi, tuy nhiên thu nhập thực tế lại giảm. Bởi lẽ thu nhập ròng của người lao động sẽ bằng thu nhập danh nghĩa của chữ tỷ lệ lạm phát bị giảm. Đó không chỉ là vấn đề của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người lao động cũng như lòng tin của họ đối với Chính Phủ.

Thu nhập không bình đẳng: Giá trị đồng tiền giảm khi lạm phát tăng khiến lãi suất tăng lên, người lao động sẽ có lợi trong việc vay trả vốn góp. Những việc này lại khiến tình trạng vơ vét hàng hóa và chờ đầu cơ làm mất cân bằng cung cầu trên thị trường. Tình trạng những người dân nghèo không có đủ hàng hóa để sử dụng trong cuộc sống hàng ngày càng phổ biến, người giàu lại càng giàu có hơn làm rối loạn nền kinh tế, tạo ra thu nhập không bình đẳng.

Nợ quốc gia: Các quốc gia đang phát triển sẽ có những khoản nợ nước ngoài, khi lạm phát tăng cao dẫn đến tỷ giá giá tăng, đồng tiền trong nước mất giá hơn so với nước ngoài. Chính phủ được lợi từ nguồn tiền trong nước nhưng lại thiệt so với ngoại tệ làm tình trạng nợ quốc gia ngày một trầm trọng hơn.

Lạm phát ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinh tế và đời sống

Tích cực

Mặc dù lạm phát đem đến khá nhiều tiêu cực cho đời sống sinh hoạt cũng như nền kinh tế, chính trị của một quốc gia, tuy nhiên nó cũng có khá nhiều lợi ích như. Khi tốc độ lạm phát tự nhiên được duy trì ổn định từ 2 – 5% thì tốc độ phát triển kinh tế của đất nước đó khá ổn định. Cụ thể là:

– Tỷ lệ thất nghiệp giảm, tiêu dùng tăng, vay nợ và đầu cơ an toàn hơn

– Chính phủ có thêm nhiều lựa chọn về công cụ kích thích đầu tư vào nội tệ.

Việc một đất nước duy trì lạm phát ở mức ổn định là rất khó, đặc biệt là với những quốc gia đang trong giai đoạn phát triển như Việt Nam.

Mỗi quốc gia đề có phương pháp đo lường khác nhau, tuy nhiên phương pháp đo lường lạm phát được áp dụng chủ yếu dựa theo hệ số giảm phát GDP. Giảm phát GDP là sự so sánh giá trị tăng hoặc giảm giá của tất cả các loại hàng hóa hoặc dịch vụ giữa GDP hiện hành với kỳ trước.

Nhìn chung, khi tính toán lạm phát trong một giai đoạn, giá cả mặt hàng trung bình tăng thì là lạm phát, giá chung giảm thì là giảm phát.

Khi xuất hiện tình trạng lạm phát, Chính Phủ sẽ có phương án giảm bớt lượng tiền lưu thông trên thị trường bao gồm:

– Ngừng phát hành tiền

– Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc

– Nâng lãi suất tiền gửi và lãi suất tái chiết khấu

– Áp dụng nghiệp vụ thị trường mở bán chứng từ có giá trị cho các ngân hàng thương mại

– Ngân hàng trung ương bán ngoại tệ cũng như vàng cho các ngân hàng thương mại.

– Giảm chi ngân sách

– Tăng thuế tiêu dùng.

Chính sách tài khóa và giảm bớt lượng tiền tệ lưu thông là phương án tối ưu để giảm lạm phát

Ngoài ra, ngân hàng trung ương và Chính Phủ sẽ đưa ra nhiều ưu đãi về tín dụng trong các lĩnh vực sản xuất để làm giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động. Bộ tài chính có thể yêu cầu tổng cục thuế giảm thuế trong việc nhập khẩu nguyên vật liệu, thuế đầu tư, thuế thu nhập doanh nghiệp… để có thể giảm bớt chi phí đầu vào. Tất cả những hoạt động trên đều kích thích năng suất lao động được hiệu quả hơn.

Lạm Phát Và Giảm Phát Là Gì? Nguyên Nhân Cũng Như Hậu Quả

1. Lạm phát là gì?

Lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian. Đồng nghĩa với sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó. Khi đó với cùng một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với lúc trước.

Do đó lạm phát thể hiện sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ. Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác.

2. Giảm phát là gì?

Giảm phát là một hiện tượng ngược lại với lạm phát. Đây là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống liên tục. Cũng có thể nói giảm phát là lạm phát với tỷ lệ mang giá trị âm. Trong các tài liệu thống kê tình hình kinh tế chính thức, khi đề cập đến giảm phát, người ta vẫn đặt dấu âm kèm với con số ở mục tỷ lệ lạm phát. Tình trạng giảm phát thường xuất hiện khi kinh tế suy thoái hay đình đốn.

Nói chung giảm phát là một vấn đề lớn trong nền kinh tế hiện đại do nó làm tăng giá trị thật của nợ, có thể làm trầm trọng thêm suy thoái.

3. Ảnh hưởng của lạm phát và giảm phát

Lạm phát và giảm phát đều có những ảnh hưởng riêng của nó đối với nền kinh tế.

a. Lạm phát

Lạm phát ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập thực tế của người lao động. Thu nhập danh nghĩa tuy không thay đổi nhưng thu nhập thực tế lại giảm. Bởi lẽ, giá trị hàng hoá dịch vụ tăng cao, có nghĩa là với cùng một thu nhập, thì người lao động sẽ mua được ít hàng hoá hơn. Giá trị đồng tiền bị giảm dần. Do đó, thu nhập thực tế của người lao động bị giảm.

Giá trị đồng tiền giảm khi lạm phát tăng khiến lãi suất tăng lên. Vì thế người lao động sẽ có lợi trong việc vay trả vốn góp. Những việc này lại khiến tình trạng vơ vét hàng hóa và chờ đầu cơ làm mất cân bằng cung cầu trên thị trường. Tình trạng những người dân nghèo không có đủ hàng hóa để sử dụng trong cuộc sống hàng ngày càng phổ biến. Người giàu lại càng giàu có hơn làm rối loạn nền kinh tế, tạo ra thu nhập không bình đẳng.

Ở mức độ quốc gia, khi lạm phát tăng cao dẫn đến tỷ giá giá tăng. Cho nên đồng tiền trong nước mất giá hơn so với nước ngoài. Chính phủ được lợi từ nguồn tiền trong nước nhưng lại thiệt so với ngoại tệ làm tình trạng nợ quốc gia ngày một trầm trọng hơn.

b. Giảm phát

Đối nghịch với lạm phát giảm phát. Hiện tượng này làm giá trị hàng hoá giảm hoạt động kinh tế cũng ngưng trệ theo. Hộ gia đình hoãn chi tiêu chờ giảm giá sâu hơn, doanh nghiệp ngừng đầu tư và tuyển dụng nhằm tiết kiệm chi phí.

Giảm phát kéo dài cùng với lãi suất thấp kéo theo những hệ lụy như sản lượng đình đốn và suy thoái. Kỳ vọng giảm phát tạo ra lãi suất thực tăng gây ra suy thoái mở rộng. Suy thoái kéo dài và giảm phát liên tục làm cho chính sách tiền tệ mất tác dụng.

Với nền kinh tế vĩ mô, nếu giảm phát không được can thiệp kịp thời, nó sẽ trở nên ngày càng dai dẳng. Khi mà giá cả giảm, tình trạng thiếu việc làm và người tiêu dùng tích trữ tiền với dự đoán là giá cả còn giảm nữa thì điều này sẽ làm hại nền kinh tế, như kiểu truyền lực cho thói quen tiết kiệm và cứ thế xoáy xuống.

Việc giảm giá, nếu tồn tại, sẽ tạo ra một vòng xoáy xấu dẫn đến giảm lợi nhuận. Đóng cửa các nhà máy hàng loạt, thất nghiệp gia tăng. Giảm thu nhập và làm tăng việc vỡ nợ từ các khoản vay của công ty và cá nhân cũng là những hậu quả nặng nề từ giảm phát.

4. Lạm phát và giảm phát là tốt hay xấu?

Giảm phát và lạm phát là hai hiện tượng khá thường gặp trong trong một nền kinh tế. Ở một mức độ vừa phải nó có tác động tích cực đến thị trường. Tuy nhiên ở một mức độ cao thì cả lạm phát và giảm phát đều gây ra những hậu quả nặng nề như suy thoái, khủng hoảng kinh tế.

Bạn đang xem bài viết Lạm Phát Có Ảnh Hướng Như Thế Nào Đến Một Nhà Đầu Tư? trên website Namtranpharma.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!