Xem Nhiều 1/2023 #️ Freud Đã Thực Sự Nói Gì (Phần 1) # Top 1 Trend | Namtranpharma.com

Xem Nhiều 1/2023 # Freud Đã Thực Sự Nói Gì (Phần 1) # Top 1 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Freud Đã Thực Sự Nói Gì (Phần 1) mới nhất trên website Namtranpharma.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trang chủ Blog Nhân cách

Khoa Học Về Giấc Mơ – Freud Đã Thực Sự Nói Gì (Phần 1)

By: OopsyAdmin, 2019-02-05 04:16:37

2019-02-05 04:16:37

“Việc xem xét những ý nghĩ tự phát hiện ra với người bệnh, nếu tuân theo đúng những quy tắc chính của phân tâm học, không phải là phương tiện hay kỹ thuật duy nhất để thăm dò cái vô thức. Hai cách làm khác cũng đưa tới cùng một mục đích: lý giải các giấc mơ và lý giải những lẫm lẫn…

Trên thực tế, lý giải các giấc mơ là con đường lớn của sự hiểu biết về cái vô thức, là cơ sở vững chắc nhất cho những nghiên cứu của chúng ta, và hơn bất cứ cách nào khác, chính việc nghiên cứu các giấc mơ sẽ làm cho các bạn thấy rõ giá trị của phân tâm học và giúp các bạn thực hành nó. Khi người ta hỏi tôi làm thế nào để trở thành một nhà phân tâm học, tôi trả lời: bằng cách nghiên cứu những giấc mơ của chính mình. Những kẻ gièm pha chúng ta không bao giờ đem lại cho sự lý giải các giấc mơ một sự quan tâm xứng đáng với nó, hoặc cố lên án nó bằng những luận cứ nông cạn nhất. Thế nhưng, nếu giải quyết được vấn đề về giấc mơ, thì những vấn đề mới do phân tâm học nêu lên chẳng đem lại một khó khăn nào nữa.”

(Trích bài thứ ba trong Năm bài giảng về phân tâm học ở Mỹ và được công bố năm 1910)  (25)

Từ những thứ Freud viết ra, chẳng có gì làm rõ hơn thế về cái chủ yếu trong những quan điểm của ông đối với những kỹ thuật cần thiết của phân tâm học và những bài học cần rút ra từ đó. Cách tiến hành một kỳ phân tích tâm lý, hiện nay thường kéo dài tới một giờ và bao hàm một liên tưởng tự do như là quy tắc duy nhất, ngoài việc lý giải các giấc mơ của người bệnh và việc phân tích những sai lầm và lầm lẫn của người đó, rốt cuộc đã đưa Freud tới tất cả những nguyên lý mà ông phải đưa vào cơ cấu cuối cùng của phân tâm học như ông đã xác định nó. Trong chương này và chương tiếp theo, chúng tôi sẽ xem xét hai kỹ thuật này cùng những gì chúng dạy cho Freud và cho phép ông dạy cho người khác.

Các giấc mơ luôn luôn đặc biệt hấp dẫn Freud. Hãy nhớ rằng khi ông tìm một ẩn dụ để diễn đạt sự vô ích lừa phỉnh của liệu pháp điện như giáo sư Erb chỉ định, ông đã khẳng định rằng nó chẳng có giá trị gì hơn chiếc chìa khóa đoán mộng của Ai Cập. Ông đã biết về những chìa khóa đoán mộng và về tín ngưỡng dân gian, theo đó các giấc mơ có thể báo trước tương lai cũng như phản ánh tình trạng hiện thời của các số phận, nhiều hơn phần lớn những đồng nghiệp có học của ông ở Viên. Nhưng phải đến khi chính ông quay sang nghiên cứu các giấc mơ, trong khi xây dựng phương pháp liên tưởng tự do của mình, ông mới có thể phát hiện ra bước nhảy vọt lớn lao mà kỹ thuật ấy có thể đem lại.

Ta hãy quay lại với bản trình bày của Freud dưới hình thức cô đọng của năm bài giảng ở Mỹ để thấy được chính ông đã chọn cách trình bày như thế nào về vấn đề lý giải các giấc mơ cho một cử tọa rất quan tâm nhưng chưa biết gì mấy, mà Freud hy vọng là họ sẽ tiếp tục nghiên cứu bằng cách đọc tác phẩm gốc:

“Cần chú ý rằng những sản phẩm mộng của chúng ta – các giấc mơ của chúng ta – một mặt, hết sức giống với những sản phẩm của các chứng bệnh tinh thần và, mặt khác, chúng có thể đi đôi với một sức khỏe hoàn hảo. Người nào chỉ biết ngạc nhiên về những ảo giác của các giác quan, về những ý tưởng kỳ lạ và tất cả những huyễn hoặc do giấc mơ đem lại, trong khi lẽ ra phải tìm cách để hiểu chúng, người đó không có một cơ may nhỏ nhất nào để hiểu được những sản phẩm không bình thường của các trạng thái tâm thần bệnh hoạn. Trong lĩnh vực này, anh ta vẫn chỉ là một kẻ không hiểu gì… Và không có gì nghịch lý khi khẳng định rằng phần lớn các nhà tâm bệnh học hiện nay phải được xếp vào những kẻ không hiểu gì ấy!

Ta hãy lướt qua vấn đề giấc mơ.

Thông thường, khi chúng ta tỉnh, chúng ta đối xử với những giấc mơ với một sự khinh thường ngang với sự khinh thường của người bệnh đối với những ý nghĩ tự phát mà nhà phân tâm gợi ra cho họ. Chúng ta quên hết những giấc mơ rất nhanh, như thể chúng ta muốn tống khứ đi càng nhanh càng tốt cái đống lộn xộn ấy. Sự khinh thường của chúng ta bắt nguồn từ tính chất lạ lùng không chỉ của những giấc mơ vô lý và ngớ ngẩn, mà của cả những giấc mơ không phải như thế. Chúng ta chán ghét những giấc mơ của mình vì những khuynh hướng trơ trẽn và vô luân công khai bộc lộ trong một số giấc mơ ấy. Người ta biết rằng thời cổ không thấy có sự khinh thường này…

Trước hết, tất cả các giấc mơ đều không xa lạ với người nằm mơ, đều khó hiểu và mơ hồ đối với anh ta. Chỉ cần xem xét những giấc mơ của trẻ nhỏ, từ một tuổi rưỡi trở đi, các bạn sẽ thấy chúng thật đơn giản và dễ giải thích. Trẻ nhỏ bao giờ cũng mơ thấy thực hiện những ham muốn nảy sinh ra ngày hôm trước mà không được thỏa mãn. Chẳng cần tài năng bói toán nào để tìm được lời giải đơn giản ấy; chỉ cần biết đứa trẻ ấy trải qua những chuyện gì ngày hôm trước. Chúng ta sẽ có được một lời giải thỏa mãn cho điều bí ẩn ấy nếu chứng minh được rằng những giấc mơ của người lớn, giống như của trẻ con, chỉ là sự thỏa mãn những ham muốn ngày hôm trước mà thôi. Và đó chính là điều đã xảy ra. Những sự phản bác do cách nhìn này gây ra sẽ biến mất trước một sự phân tích sâu hơn.

Đây là sự phản bác đầu tiên: những giấc mơ của người lớn thường khó hiểu và không giống chút gì với sự thực hiện một ham muốn cả. – Nhưng, xin trả lời, đó là vì chúng bị bóp méo đi, bị làm sai lạc đi. Nguồn gốc tâm thần của chúng rất khác với biểu hiện cuối cùng của chúng. Do đó, chúng ta phải phân biệt hai điều: một mặt, giấc mơ như nó hiện ra với chúng ta, như chúng ta nhớ lại vào sáng hôm sau, là mơ hồ đến mức chúng ta thường thật khó kể lại, diễn đạt lại bằng lời; đó là cái chúng ta có thể gọi là nội dung biểu hiện (contenu manifeste) của giấc mơ. Mặt khác chúng ta có toàn bộ những ý tưởng mơ tiềm ẩn (idées oniriques latentes) mà chúng ta cho là chúng chi phối giấc mơ ở tận đáy sâu của cái vô thức. Như vậy, sự hình thành ra các giấc mơ là kết quả của sự tương phản giữa những sức mạnh tâm thần, giống như trong sự hình thành những triệu chứng. Quá trình bóp méo này cũng giống như quá trình chi phối sự xuất hiện những triệu chứng hystêri. “Nội dung biểu hiện” của giấc mơ là cái thay thế đã bị biến đổi đi của những “ý tưởng mơ tiềm ẩn” và sự biến đổi này là công việc của một “cái tôi” tự bảo vệ; nó nảy sinh ra từ những kháng cự ngăn cấm tuyệt đối các ham muốn vô thức đi vào ý thức khi tỉnh; nhưng, khi giấc ngủ yếu đi, những sức mạnh ấy vẫn còn khá mạnh để áp đặt lên những ham muốn ít ra là một cái mặt nạ che đậy chúng lại. Người nằm mơ không còn giải được ý nghĩa những giấc mơ của mình, cũng giống như người mắc chứng hystêri không hiểu được ý nghĩa những triệu chứng của mình.

Để tin chắc là có những “ý tưởng tiềm ẩn” của giấc mơ và tính hiện thực của những quan hệ giữa những ý tưởng ấy với “nội dung biểu hiện” của giấc mơ, cần phải tiến hành việc phân tích các giấc mơ, với một kỹ thuật giống như kỹ thuật phân tâm đã nói. Kỹ thuật ấy trước hết phải nhằm loại bỏ hoàn toàn các chuỗi ý tưởng có vẻ như được “nội dung biểu hiện” của giấc mơ đem lại, và phải cố khám phá những “ý tưởng tiềm ẩn” bằng cách tìm xem những liên tưởng nào gây ra như vậy sẽ đưa tới việc khám phá ra những ý tưởng tiềm ẩn của người nằm mơ, cũng giống như ban nãy chúng ta thấy những liên tưởng do các triệu chứng khác nhau gây ra, đưa chúng ta tới những ký ức đã quên và tới những mặc cảm của người bệnh. Những “ý tưởng tiềm ẩn” tạo nên ý nghĩa sâu sắc và hiện thực của giấc mơ ấy, một khi đã khám phá được, sẽ cho thấy việc quy những giấc mơ của người lớn thành kiểu giấc mơ của trẻ con là chính đáng như thế nào. Thật vậy, chỉ cần thay thế vào “nội dung biểu hiện” – dù kỳ quặc đến mấy – một ý nghĩa sâu sắc là mọi cái trở nên sáng tỏ: người ta thấy rằng những chi tiết khác nhau của giấc mơ gắn với những ấn tượng ngày hôm trước và toàn bộ giấc mơ hiện ra như sự thực hiện một ham muốn không được thỏa mãn. “Nội dung biểu hiện” của giấc mơ do đó có thể được coi như sự thực hiện trá hình những ham muốn bị dồn nén.

Bây giờ ta hãy nhìn xem cái cách mà những ý tưởng vô thức của giấc mơ biến thành “nội dung biểu hiện” như thế nào. Tôi sẽ gọi toàn bộ thao tác này là “công việc mộng” (travail onirique). Nó đáng được tập trung toàn bộ sự quan tâm về lý thuyết của chúng ta, vì chúng ta có thể nghiên cứu ở đó, hơn bất cứ nơi nào khác, những quá trình tâm thần có thật nào có thể diễn ra trong cái vô thức hoặc, nói đúng hơn, giữa hai hệ thống tâm thần khác nhau như cái hữu thức và cái vô thức. Trong những quá trình ấy, cần chú trọng hai cái: sự cô đặc (condensation) và sự di chuyển (déplacement). Công việc mộng là một trường hợp tác động qua lại đặc biệt giữa những chùm tinh thần (constellations mentales) khác nhau, tức là nảy sinh từ một liên tưởng tinh thần. Trong các giai đoạn căn bản của nó, công việc này giống hệt như công việc biến đổi những mặc cảm dồn nén thành những triệu chứng, khi dồn nén thất bại.

Hơn nữa, các bạn sẽ kinh ngạc khi phát hiện ra trong việc phân tích các giấc mơ, đặc biệt là phân tích các giấc mơ của mình, tầm quan trọng bất ngờ của những ấn tượng thời thơ ấu. Bằng giấc mơ, đứa trẻ vẫn tiếp tục sống trong người lớn, với những đặc tính và ham muốn của nó, ngay cả những cái đã trở thành vô ích. Chính người lớn đã thoát thai từ một đứa trẻ với những năng lực rất khác với những năng lực của người lớn bình thường. Nhưng phải trải qua bao nhiêu tiến hóa, bao nhiêu dồn nén, bao nhiêu thăng hoa, bao nhiêu phản ứng tâm thần, con người bình thường ấy mới dần dần được tạo dựng, sau khi đã hưởng thụ một nền giáo dục và một nền văn hóa được tiếp nhận thật khó nhọc – và phần nào cũng là nạn nhân của những thứ đó!

Trong việc phân tích các giấc mơ, tôi còn nhận thấy (và tôi xin lưu ý các bạn về điều đó) rằng cái vô thức đã dùng một tượng trưng nào đó, nhất là để biểu hiện những mặc cảm tính dục, có khi khác nhau từ người này sang người khác nhưng cũng có những nét chung và được qui thành một số kiểu tượng trưng nhất định như chúng ta lại thấy ở trong các huyền thoại và các truyền thuyết. Có thể việc nghiên cứu giấc mơ cho phép chúng ta hiểu được những sáng tạo ấy của trí tưởng tượng dân gian.

Người ta đã chống lại lý thuyết của chúng tôi, khi chúng tôi cho rằng giấc mơ là sự thực hiện một ham muốn bằng những giấc mơ lo hãi. Tôi xin yêu cầu các bạn ngay là đừng để bị vướng phải sự phản bác ấy. Ngoài những giấc mơ lo hãi cần được lý giải trước khi xét đoán chúng, cần phải nói rằng nói chung sự lo hãi không chỉ là do nội dung của giấc mơ mà có, như người ta tưởng tượng ra khi chưa biết tới sự lo hãi của những người bị nhiễu tâm. Lo hãi là một sự khước từ mà “cái tôi” đem đối lập với những ham muốn dồn nén đã trở nên mạnh mẽ; chính vì thế rất dễ giải thích sự có mặt của nó trong giấc mơ nếu giấc mơ biểu hiện quá đầy đủ những ham muốn bị dồn nén ấy.

“Các bạn thấy rằng việc nghiên cứu giấc mơ đã được biện minh bằng sự soi sáng của nó về những hiện thực, mà nếu không, thì sẽ rất khó hiểu. Thế nhưng, chúng tôi đã đạt tới điều đó trong tiến trình chữa trị các chứng nhiễu tâm bằng phân tâm học”. (26)

Rất có thể ấn tượng do đoạn trên gây ra cho cử tọa là ấn tượng do những bản trình bày tóm tắt đầy khêu gợi gây ra. Có thể đó cũng chính là ý định của Freud; ít ra ông cũng có một ý muốn vô thức trả thù lại thái độ khinh thường cao ngạo đối với sự công bố lần đầu tiên bản luận văn độc đáo của ông về vấn đề lý giải các giấc mơ. Freud đã mất nhiều thời gian để viết luận văn ấy, và đã trì hoãn công việc công bố nó lâu hơn nữa. Cuối cùng, bản luận văn ra mắt ngày 4 tháng 11 năm 1899, nhưng các nhà xuất bản lại đề năm 1900.

Có vẻ thật khó hiểu tại sao một cuốn sách được thừa nhận như một trong những tác phẩm cổ điển lớn của tư tưởng loài người lại có thể có một số phận thảm hại, nhục nhã đến như vậy khi nó được xuất bản lần đầu. Việc in nó với con số 600 bản đã gây một ấn tượng đặc biệt; lại phải mất 8 năm mới bán hết. Trong 6 tuần lễ đầu sau khi xuất bản, đã bán được 123 bản, nhưng phải mất 2 năm sau đó mới bán thêm được 228 bản khác. Thế mà tập sách này ngày nay ở khắp nơi đã được coi là tác phẩm lớn nhất của Freud. Nó tự đặt ra hai nhiệm vụ: trình bày đầy đủ lý thuyết trước Freud về các giấc mơ; và xác nhận những lý thuyết trước Freud về những cơ chế tinh thần vô thức, có nhiều ví dụ minh họa rất sáng rõ. Bản thân Freud không bao giờ nghi ngờ về tầm quan trọng của cuốn sách và những phát hiện mà ông đã trình bày, chính những phát hiện ấy đã làm biến đổi cuộc đời của ông. Lời phán quyết của ông về vấn đề này đã xuất hiện trong một lời tựa đặc biệt do ông viết sau 32 năm theo yêu cầu của lần xuất bản tiếng Anh:

“Tác phẩm này, mà sự đóng góp mới mẻ của nó vào tâm lý học đã từng làm mọi người kinh ngạc lúc công bố nó (1900), về căn bản vẫn giữ nguyên. Ngay cả hiện nay, tôi vẫn cho rằng nó chứa đựng những cái có giá trị lớn nhất trong tất cả những phát hiện mà tôi có may mắn thực hiện. Một trực giác như trực giác này không thể xảy tới hai lần trong một đời người. (27)

Để vượt qua khó khăn ấy mà không có thái độ bất công đối với những nhận xét độc đáo xuất sắc và thấu suốt của ông, chúng ta có thể xem xét chúng dưới dạng kết tinh, và chỉ cần lấy một hay ví dụ riêng của ông và một vài ví dụ khác do những học trò sau này của ông cung cấp để minh họa.

Một đêm, một nữ bệnh nhân của ông mơ thấy mình bóp cổ một con chó trắng nhỏ. Tuy giấc mơ này chẳng có gì là đặc biệt và không thể có thật, nhưng Ferenczi đã kích thích để bệnh nhân này yêu cầu ông phân tích giấc mơ ấy. Những liên tưởng tự do xuất phát từ giấc mơ như bà nhớ lại: vì thích làm bếp nên bà phải giết nhiều con vật, vặn cổ những con bồ câu hay gà giò. Ghê tởm công việc ấy, bà cố làm cho xong càng nhanh càng tốt. Bà thấy trong giấc mơ của mình là đã bóp cổ một con chó giống như cách bà bóp cổ những con gà giò trong cuộc sống thực. Rồi bà chuyển sang những nhận xét và những hoang tưởng nói chung về vấn đề xử tử theo lối treo cổ và hiệu ứng do việc đó gây ra. Bà có vẻ thích thú với đề tài thảm thiết này. Ferenczi hỏi bà có muốn xử tử một ai đó theo lối này không. Bà nói tiếp: “Bà chị dâu tôi cố xen vào giữa chồng tôi và tôi, y như một con bồ câu lì lợm”. Bà bắt đầu thấy được ý nghĩa của dòng suy nghĩ của mình,và bỗng nhớ lại một cuộc xô xát kịch liệt xẩy ra cách đó mấy ngày, khi bà tống cổ chị dâu ra khỏi cửa và hét lên: “Cút đi!… Tao không muốn thấy một con chó dữ trong nhà tao!”. Ferenczi nói thêm rằng việc lý giải giấc mơ trở thành rõ ràng đối với người đàn bà nằm mơ ấy. Bà xác nhận là người chị dâu ấy lùn mập và có nước da tái mét.

Chúng tôi có thể kể thêm một giấc mơ khác lấy từ sưu tập độc đáo của Freud, giấc mơ này cũng có những nét giống nhau kỳ lạ với giấc mơ trước. Đây là lời kể của Freud:

“Ông luôn luôn nói rằng giấc mơ là một ham muốn được thực hiện, – một nữ bệnh nhân dí dỏm nói. – Tôi sẽ kể cho ông nghe một giấc mơ hoàn toàn ngược với ham muốn được thực hiện. Ông sẽ xem nó ăn nhập với lý thuyết của ông thế nào đây? Giấc mơ là thế này:

“Tôi muốn làm một bữa ăn tối, nhưng tất cả thức ăn chỉ còn có một ít cá hồi hun khói. Tôi muốn đi mua thêm thức ăn, nhưng nhớ lại rằng đó là một chiều chủ nhật và tất cả các cửa hiệu đều đóng cửa. Tôi muốn gọi dây nói cho vài người bán hàng, nhưng máy lại hỏng. Thế là tôi phải từ bỏ ý muốn thết bữa tối ấy.”

Tất nhiên, tôi trả lời rằng chỉ có phân tích mới quyết định được ý nghĩa của giấc mơ này; nhưng tôi cũng đồng ý rằng thoạt nhìn, nó có vẻ hợp lý và nhất quán, và có vẻ hoàn toàn ngược lại sự thực hiện ham muốn. “Những giấc mơ ấy có những yếu tố nào? Bà hẳn biết rằng những lý do của một giấc mơ bao giờ cũng nằm ở những sự kiện các ngày trước đó.” (28)

Mặc dầu nội dung biểu hiện đúng là trái ngược với sự thực hiện một mong muốn rõ ràng, nhưng sự phân tích đã cho thấy tình huống thực sự. Sau vài nhận xét sáo mòn, nữ bệnh nhân giải thích rằng ngày hôm trước bà đi thăm một người bạn gái mà bà rất ghen vì cho rằng chồng mình thích người đó. May thay, người bạn gái ấy lại gầy gò mà ông chồng thì thường thích những người có dáng đẫy đà kia. Người bạn gái thổ lộ mình rất muốn béo ra và trong câu chuyện, đã nói với người nằm mơ rằng: “Bao giờ thì chị mới mời lại chúng tôi? Chị luôn luôn có những món rất ngon”. Thế là ý nghĩa của giấc mơ bỗng sáng tỏ đối với bà; giống hệt như thể bà đã đáp lại người bạn gái của mình: “À, vâng, nếu chị muốn tôi mời chị đến ăn một bữa thật ngon, thì chị hãy làm cho mình béo ra và chắc là chị còn làm cho chồng tôi thích hơn. Tốt hơn là tôi sẽ chẳng bao giờ mời chị đến ăn tối cả”. Freud nhấn mạnh rằng giấc mơ ấy thật ra là sự thực hiện trá hình một mong muốn bị cấm hay bị dồn nén.

Freud khẳng định tất cả các giấc mơ đều là sự thực hiện những ham muốn; phần lớn những giấc mơ của trẻ con là sự thực hiện những ham muốn một cách trực tiếp, hoặc là sự bù đắp những ham muốn bị ngăn chặn, hẫng hụt, không thực hiện được hay phải để lại sau này mới thực hiện, khi tỉnh dậy. Những giấc mơ của người lớn thì phức tạp hơn, nói chung sự hạn chế của chúng thường đến từ nội tâm hày đã trải qua dồn nén. Trong các giấc mơ, sự lo hãi cũng thường được gây ra do thực hiện trá hình một ham muốn bị dồn nén, nhất là khi cần có sự dồn nén để tránh cho người bệnh lo lắng, cảm thấy mình có tội hay e sợ.

Chúng ta cũng phải chú ý tới những tình cảm sâu sắc nhưng trái ngược của Freud đối với ông bố mình. Freud bị xúc động rất mạnh vì cái chết của ông bố, nên đã để phát triển một số triệu chứng mà chính ông coi là những triệu chứng hystêri. Đêm hôm trước lễ tang bố mình, ông đã nằm mơ thấy một tấm bảng ghi dòng chữ: “Yêu cầu nhắm cả hai mắt”. Nhưng, nhớ kỹ lại, Freud thấy chắc chắn là tấm biển ấy không ghi: “Yêu cầu nhắm một mắt”. Một người không biết gì về phân tâm có thể cho rằng trước khi bắt đầu liên tưởng tự do, phải chọn một trong hai câu ấy. Trái lại, Freud đã đi tìm nguyên nhân của giấc mơ theo cả hai hướng ấy, và thấy rằng chúng giống nhau. Câu mang chữ “nhắm cả hai mắt” rõ ràng gắn với cái chết của ông bố. Vì hai mắt của ông bố đã nhắm lại khi chết.

Tạm thời, chúng ta đã đi tới cái điểm mà chúng ta có thể coi là những ý kiến của Freud về những nguồn gốc của giấc mơ. Ông phân biệt bốn nguồn gốc đặc thù của giấc mơ:

1. Một sự kiện mới xảy ra có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xúc cảm của người nằm mơ được biểu hiện trực tiếp trong giấc mơ. Điều đó thường xảy ra một cách tất nhiên và thật ra không cần phải lý giải, như trong những giấc mơ đơn giản về sự thực hiện mong muốn của trẻ con.

3. Một hay nhiều sự kiện mới xảy ra và quan trọng trong đời sống xúc cảm của người nằm mơ có thể được biểu hiện trong giấc mơ, bởi một ký ức cũng mới mẻ nhưng vô tình. Ở đây, cơ chế đã bao hàm cái được Freud gọi là “di chuyển”; một sự phân tích phức tạp hơn, bằng liên tưởng tự do, là cần thiết để thấy được ký ức ấy.

4. Một ký ức hay một ý tưởng, tuy quan trọng nhưng đã qua từ lâu và đã bị chôn vùi, được biểu hiện trong giấc mơ bằng một ấn tượng mới mẻ và tương đối vô tình. Đó là kiểu di chuyển phức tạp nhất; nó thường hiện ra tương đối nhiều hơn trong những giấc mơ của những người đã biểu hiện những triệu chứng rối nhiễu xúc cảm khi thức.

Người ta sẽ thấy rằng trong tất cả các trường hợp, Freud đã khẳng định như một định đề rằng một phần nào đó của giấc mơ phải gắn với một sự kiện vừa xảy ra. Thậm chí ông còn đi tới chỗ tuyên bố rằng sự kiện ấy chỉ mới xảy ra trong 24 giờ trước khi có giấc mơ. Tất nhiên, khi sự kiện mới xảy ra quá tầm thường đến mức không thể nhớ lại được bằng một cách nào khác, mà chỉ có liên tưởng tự do mới làm cho nó hiện lên và chỉ có những liên tưởng xa hơn mới có thể cho thấy những quan hệ của nó với những ý tưởng quan trọng hơn nhưng bị dồn nén sâu sắc, mới đây hoặc rất cũ, và mang đầy cảm xúc.

Vậy thì, công việc mộng mà chúng ta đã có dịp nhắc tới và Freud đã mô tả với một độ chính xác nhất định là nằm ở những chỗ nào? Chúng ta đã liệt kê những cơ chế chính:

1. Cô đặc.

2. Di chuyển.

3. Kịch hóa.

4. Tượng trưng hóa.

5. Chế biến lần thứ hai.

Bây giờ ta hãy lần lượt xem xét từng cơ chế nói trên.

Đọc tiếp: Khoa Học Về Giấc Mơ – Freud Đã Thực Sự Nói Gì (Phần 2)

(Trích chương 3: Khoa học về giấc mơ – Freud đã thực sự nói gì, David Stafford – Clark

Người dịch: Văn Luyện và Huyền Giang, NXB Thế giới, 1998

Dịch từ tiếng Pháp “Ce que Freud a vraiment dit”, nhà xuất bản Stock, 1967)

Tin bài cùng mục

Freud Nói Gì Về Giải Mã Giấc Mơ?

Mặc dù đã có nhiều học thuyết xuất hiện nhằm lý giải tại sao chúng ta lại mơ, tuy nhiên vẫn chưa có ai hiểu một cách ngọn ngành mục đích của giấc mơ, chứ chưa nói đến quá trình ta phiên giải ý nghĩa của chúng. Giấc mơ vốn đã khá khó hiểu, nắm bắt được ý nghĩa đằng sau chúng rõ ràng là vô cùng nan giải. Nội dung của giấc mơ có thể thay đổi đột ngột, có nhiều yếu tố kỳ quái, hoặc hù dọa ta bằng những hình ảnh đáng sợ. Trong thực tế, nội dung giấc mơ rất phong phú và cuốn hút, đây là điều khiến nhiều người tin rằng phải có một ý nghĩa nào đó đằng sau chúng.

While many theories exist to explain why we dream, no one yet fully understands their purpose, let alone how to interpret the meaning of dreams. Dreams can be mysterious, but understanding the meaning of our dreams can be downright baffling. Our dreams’ contents can shift suddenly, feature bizarre elements, or frighten us with terrifying imagery. The fact that dreams can be so rich and compelling is what causes many to believe that there must be some meaning to our dreams.

Một vài nhà nghiên cứu lỗi lạc như G. William Domhoff cho rằng hầu hết giấc mơ đều không nhằm mục đích thực sự nào cả. Mặc dầu vậy, giải mã giấc mơ đã trở thành một đề tài phổ biến. Mặc dù nghiên cứu vẫn chưa tìm ra được mục đích của giấc mơ, nhưng nhiều chuyên gia vẫn tin tưởng rằng giấc mơ thực sự có mang ý nghĩa.

Some prominent researchers such as G. William Domhoff suggest that dreams most likely serve no real purpose.1 Despite this, dream interpretation has become increasingly popular. While research has not demonstrated a purpose for dreams, many experts believe that dreams do have meaning.

Theo Domhoff: According to Domhoff:

“‘Ý nghĩa’ ở đây không có gì mang tính gắn kết chặt chẽ và bao hàm các mối tương quan mang tính hệ thống với những yếu tố khác – và nếu xem xét theo góc nhìn đó, giấc mơ thực sự có ý nghĩa. Hơn nữa, chúng là những kẻ “kể chuyện” tiết lộ khá nhiều thứ diễn ra trong tâm trí chúng ta. Chúng tôi thấy rằng khoảng 75 đến 100 giấc mơ của một người sẽ cho ta thấy một bức chân dung tâm lý khá hoàn hảo về người ấy. Hãy cho chúng tôi biết 1000 giấc mơ trong khoảng 2 thập kỷ của một chủ thể và chúng tôi có thể mang đến cho bạn một hồ sơ “tâm trí” của người đó, khá chính xác và đặc thù như kiểu dấu vân tay của họ.”

“‘Meaning’ has to do with coherence and with systematic relations to other variables, and in that regard dreams do have meaning. Furthermore, they are very “revealing” of what is on our minds. We have shown that 75 to 100 dreams from a person give us a very good psychological portrait of that individual. Give us 1000 dreams over a couple of decades and we can give you a profile of the person’s mind that is almost as individualized and accurate as her or his fingerprints.”2

7 Học thuyết lược giản về lý do tại sao ta lại mơ. 7 Theories on Why We Dream Simplified

Freud: Giấc mơ là con đường đến tâm trí vô thức. Freud: Dreams as the Road to the Unconscious Mind

Trong cuốn “Giải mã giấc mơ”, Sigmund Freud cho rằng nội dung của giấc mơ có liên quan đến sự thỏa nguyện mong muốn. Freud tin rằng nội dung hiển nhiên của một giấc mơ, hay hình ảnh và sự kiện thực trong giấc mơ, đóng vai trò ngụy trang cho nội dung tiềm ẩn hay đúng hơn là những mong muốn trong vô thức của chủ thể.

In his book “The Interpretation of Dreams,” Sigmund Freud suggested that the content of dreams is related to wish-fulfillment. Freud believed that the manifest content of a dream, or the actual imagery and events of the dream, served to disguise the latent content or the unconscious wishes of the dreamer.

Freud cũng mô tả 4 yếu tố trong quá trình này mà ông gọi là “công việc của giấc mơ”:

Freud also described four elements of this process that he referred to as “dream work”:3

– Cô đọng – Nhiều ý tưởng và quan niệm khác nhau được thể hiện trong một chu kỳ của giấc mơ. Thông tin được cô đọng lại thành một suy nghĩ hoặc hình ảnh đơn lẻ.

– Thay thế – Hoạt động này ngụy trang ý nghĩa cảm xúc của nội dung tiềm ẩn bằng cách làm nhiễu loạn những phần quan trọng và những phần vụn vặt không quan trọng trong giấc mơ.

– Biểu tượng hóa – Hoạt động này cũng góp phần “kiểm duyệt” những ý tưởng bị đè nén được chứa đựng trong những giấc mơ bằng cách chèn những vật thể nhằm biểu tượng hóa nội dung tiềm ẩn của giấc mơ.

– Xem xét lại – Trong suốt giai đoạn cuối cùng này của quá trình mơ, Freud cho rằng các yếu tố kỳ quái của giấc mơ được sắp xếp lại nhằm giúp giấc mơ trở nên dễ hiểu hơn, vì vậy mới hình thành nội dung hiển nhiên.

Jung: Nguyên mẫu và Vô thức tập thể. Jung: Archetypes and the Collective Unconscious

Mặc dù Carl Jung có một số quan điểm tương đồng với Freud nhưng ông cảm thấy giấc mơ không chỉ là một dạng hoàn thành các mong muốn bị đè nén. Jung cho rằng bản thân giấc mơ tiết lộ cả tâm trí vô thức cá nhân và vô thức tập thể, ông tin rằng giấc mơ có vai trò bù đắp lại những phần tâm hồn không phát triển đầy đủ trong đời sống lúc tỉnh. Tuy nhiên, trái với những tuyên bố chắc nịch của Jung, nghiên cứu về sau này của Hall lại tiết lộ rằng những đặc tính thể hiện ở mọi người lúc tỉnh cũng giống như những đặc tính thể hiện trong những giấc mơ.

While Carl Jung shared some commonalities with Freud, he felt that dreams were more than an expression of repressed wishes. Jung suggested that dreams revealed both the personal and collective unconscious and believed that dreams serve to compensate for parts of the psyche that are underdeveloped in waking life. In contradiction to Jung’s assertions, however, later research by Hall revealed that the traits people exhibit while they awake are the same as those expressed in dreams.

Jung cũng cho rằng các nguyên mẫu như tính nữ, bóng tối, và tính nam thường thể hiện bằng những hình ảnh hoặc vật thể mang tính biểu tượng trong giấc mơ. Những biểu tượng này, theo ông, là đại diện cho những thái độ bị đè nén bởi tâm trí tỉnh thức. Không giống như Freud, người thường cho rằng những biểu tượng cụ thể đại diện những suy nghĩ cụ thể trong vô thức, Jung lại tin rằng giấc mơ có thể mang tính cá nhân rất cao và rằng phiên giải những giấc mơ này đòi hỏi ta phải hiểu khá rõ về chính con người chủ thể.

Jung also suggested that archetypes such as the anima, the shadow, and the animus are often represented symbolic objects or figures in dreams.4 These symbols, he believed, represented attitudes that are repressed by the conscious mind. Unlike Freud, who often suggested that specific symbols represent specific unconscious thoughts, Jung believed that dreams can be highly personal and that interpreting these dreams involved knowing a great deal about the individual dreamer.

Hall: Giấc mơ là một quá trình nhận thức. Hall: Dreams as a Cognitive Process

Calvin Hall đưa ra quan điểm rằng giấc mơ là một phần của quá trình nhận thức mà tại đó, giấc mơ đóng vai trò là những “điểm hội tụ” các yếu tố trong đời sống cá nhân mỗi người. Hall nhìn vào những chủ đề và dạng thức của giấc mơ bằng cách phân tích hàng ngàn nhật ký giấc mơ từ các tham dự viên nghiên cứu, sau cũng ông tạo ra một hệ thống mã hóa định lượng chia nội dung của những giấc mơ vào một số nhóm phân loại:

Calvin S. Hall proposed that dreams are part of a cognitive process in which dreams serve as “conceptions” of elements of our personal lives.5 Hall looked for themes and patterns by analyzing thousands of dream diaries from participants, eventually creating a quantitative coding system that divided what’s in our dreams into a number of categories.

Theo thuyết của Hall, giải mã giấc mơ đòi hỏi ta phải biết được: According to Hall’s theory, interpreting dreams requires knowing:

– Những hành động của chủ thể trong giới hạn giấc mơ. the actions of the dreamer within the dream

– Những vật thể và hình ảnh trong giấc mơ. the objects and figures in the dream

– Những tương tác giữa chủ thể và những nhận vật trong giấc mơ. the interactions between the dreamer and the characters in the dream

– Bối cảnh, sự chuyển tiếp và kết quả của giấc mơ. the dream’s setting, transitions, and outcome

Tuy nhiên, mục tiêu tối thượng của giải mã giấc mơ không phải để hiểu được giấc mơ, mà để hiểu được người sở hữu giấc mơ đó.

The ultimate goal of this dream interpretation is not to understand the dream, however, but to understand the dreamer.

Domhoff: Giấc mơ là sự phản chiếu đời sống lúc tỉnh. Domhoff: Dreams as a Reflection of Waking Life

William Domhoff là một nhà nghiên cứu lỗi lạc về giấc mơ, đã thực hiện nghiên cứu cùng với Calvin Hall tại Đại học Miami. Trong những nghiên cứu quy mô lớn về nội dung của giấc mơ, Domhoff đã phát hiện ra giấc mơ phản ánh những suy nghĩ và mối quan tâm của người sở hữu nó trong đời sống lúc tỉnh. Domhoff đề xuất một mô hình nhận thức thần kinh về những giấc mơ, mà tại đó, mơ là kết quả của các quá trình sinh thần kinh và một hệ thống các giản đồ. Nội dung của giấc mơ, theo ông, là kết quả thu được từ những quá trình nhận thức này.

William Domhoff is a prominent dream researcher who studied with Calvin Hall at the University of Miami. In large-scale studies on the content of dreams, Domhoff has found that dreams reflect the thoughts and concerns of a dreamer’s waking life. Domhoff suggests a neurocognitive model of dreams in which the process of dreaming results from neurological processes and a system of schemas.6 Dream content, he suggests results from these cognitive processes.

Phổ biến Giải mã giấc mơ cho đại chúng. Popularizing Dream Interpretation

Kể từ những năm 1970, giải mã giấc mơ đã nhanh chóng trở nên phổ biến nhờ vào công trình của các tác giả như Ann Faraday. Trong cuốn “Trò chơi giấc mơ”, Faraday mô tả những kỹ thuật và ý tưởng mà bất cứ ai cũng có thể sử dụng để giải mã giấc mơ của chính họ. Ngày nay, người tiêu dùng cũng có thể mua hàng loạt các cuốn sách giới thiệu từ điển về giấc mơ, chỉ dẫn đọc hiểu các biểu tượng, và gợi ý giúp hiểu và phiên giải giấc mơ.

Since the 1970s, dream interpretation has grown increasingly popular thanks to work by authors such as Ann Faraday. In books such as “The Dream Game,” Faraday outlined techniques and ideas than anyone can use to interpret their own dreams. Today, consumers can purchase a wide variety of books that offer dream dictionaries, symbol guides, and tips for interpreting and understanding dreams.

Nghiên cứu về giấc mơ chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển và thu hút sự quan tâm từ mọi người trong nỗ lực muốn hiểu ý nghĩa giấc mơ của bản thân,.Tuy nhiên, chuyên gia về giấc G. William Domhoff kiến nghị, “… trừ khi bạn thấy giấc mơ của mình là vui vẻ, khơi gợi trí óc, hay truyền cảm hứng nghệ thuật, còn không thì cứ thoải mái quên nó đi.” Những nhà nghiên cứu khác như Cartwright và Kasznial cho rằng giải mã giấc mơ có thể thực sự tiết lộ nhiều về người muốn hiểu giấc mơ của mình hơn là bản thân ý nghĩa của giấc mơ.

Dream research will undoubtedly continue to grow and generate interest from people interested in understanding the meaning of their dreams. However, dream expert G. William Domhoff recommends that “…unless you find your dreams fun, intellectually interesting, or artistically inspiring, then feel free to forget your dreams.” Others such as Cartwright and Kaszniak propose that dream interpretation may actually reveal more about the interpreter than it does about the meaning of the dream itself.

Ý nghĩa của một giấc mơ có thể tùy thuộc vào những thiên kiến trong bạn. A Dream’s Meaning Might Depend on Your Biases

Carey Morewedge và Michael Norton đã nghiên cứu về giấc mơ của hơn 1000 người từ Hoa Kỳ, Ấn Độ, và Hàn Quốc. Cái họ phát hiện ra là chỉ có một số ít sinh viên tham gia vào nghiên cứu tin rằng giấc mơ của họ đơn giản chỉ là một phản ứng của não bộ với những kích thích ngẫu nhiên. Thay vào đó, hầu hết đều công nhận quan điểm của Freud rằng giấc mơ tiết lộ những ham muốn và thôi thúc trong vô thức.

Researchers Carey Morewedge and Michael Norton have studied the dreams of over 1,000 individuals from the United States, India, and South Korea.7 What they discovered is that few of the college students who participated in the research believed that their dreams were simply the brain’s response to random stimulation. Instead, most endorsed Freud’s notion that dreams reveal unconscious wishes and urges.

Tuy nhiên, cái mà họ phát hiện ra là trọng lượng và tầm quan trọng mà con người ta đặt vào những giấc mơ tùy thuộc phần nhiều vào những thiên kiến trong họ. Con người ta có thể nhớ những giấc mơ tiêu cực nếu chúng có luên quan tới người họ vốn đã không ưa. Họ cũng dễ chú tâm quá mức vào những giấc mơ tích cực nếu chúng có dính líu tới bạn bè hoặc những người họ yêu thương.

What they also discovered, however, is that the weight and importance people attach to their dreams depend largely on their biases. People are more likely to remember negative dreams if they involve people that they already dislike. They are also more likely to take positive dreams seriously if they involve friends or loved ones.

Nói cách khác, mọi người đều muốn giải mã giấc mơ của mình theo cách nào đó để khớp với những niềm tin sẵn có của chính họ về bản thân, về thế giới và những người xung quanh họ. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những thứ như thiên kiến xác nhận và thiên kiến tự kỷ thậm chí còn tác động lên cách con người ta phản ứng lại với giấc mơ của mình.

In other words, people are motivated to interpret their dreams in ways that support their already existing beliefs about themselves, the world, and the people around them. The researchers found that such things as the confirmation bias and the self-serving bias even impact how people respond to their own dreams.

Các nhà nghiên cứu nhận định, vì con người ta có xu hướng quá coi trọng giấc mơ của mình nên những giấc mơ cũng có thể trở thành cái gọi là lời tiên tri tự ứng nghiệm. Nếu bạn mơ rằng mình sẽ rớt kỳ thi, bạn có thể sẽ ít còn muốn học hành hay thậm chí bị căng thẳng quá mức, rút cuộc là thi cử chẳng ra gì thật.

Because people tend to take their dreams seriously, the researchers suggest, these dreams can also become something of a self-fulfilling prophecy. If you dream that you are going to fail an exam, you might be less motivated to study or even become so stressed out that you perform poorly.

Giấc mơ có thể có hoặc có thể không có ý nghĩa nhưng thực tế vẫn cho thấy giải mã giấc mơ đã trở thành một xu hướng thịnh hành một thời. Một số người thậm chí còn dựa vào nội dung của giấc mơ để đưa ra những quyết định lớn trong đời.

Dreams may or may not have meaning but the fact remains that interpreting dreams has become a popular past time. Some people even base major life decisions on the contents of their dreams.

Tham khảo. Article Sources Domhoff GW, Fox KC. Dreaming and the default network: A review, synthesis, and counterintuitive research proposal. Conscious Cogn. 2015;33:342-53. doi:10.1016/j.concog.2015.01.019 https://www.dailymail.co.uk/sciencetech/article-3134908/What-nightmares-mean-Huge-online-database-reveals-bizarre-intimate-dreams-people-world.html Schneider JA. From Freud’s dream-work to Bion’s work of dreaming: the changing conception of dreaming in psychoanalytic theory. Int J Psychoanal. 2010;91(3):521-40. doi:10.1111/j.1745-8315.2010.00263.x Jung, CJ. Four Archetypes. New York: Routledge; 2014. Hall, CS. A Cognitive Theory of Dreams. The Journal of General Psychology. 1953;49:2, 273-282. doi:10.1080/00221309.1953.9710091 Domhoff, GW. A new neurocognitive theory of dreams. Dreaming. 2001;11(1), 13-33. doi:10.1023/A:1009464416649 Morewedge CK, Norton MI. When dreaming is believing: the (motivated) interpretation of dreams. J Pers Soc Psychol. 2009;96(2):249-64. doi:10.1037/a001326 Nguồn: Như Trang https://www.verywellmind.com/dream-interpretation-what-do-dreams-mean-2795930

Đăng Ký Nhãn Hiệu Thực Phẩm Có Thực Sự Cần Thiết?

Vệ sinh an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề nổi cộm được quan tâm hàng đầu hiện nay. Giữa bối cảnh đó, các tổ chức cá nhân kinh doanh mặt hàng thực phẩm đang đứng trước thời cơ và thách thức to lớn trong việc tạo dựng uy tín cho doanh nghiệp của mình để thúc đẩy cho sự phát triển sản xuất kinh doanh.

Một trong những giải pháp tốt nhất cho vấn đề đảm bảo uy tín này chính là đăng ký nhãn hiệu thực phẩm cho doanh nghiệp của bạn. Đó chính là động thái khôn ngoan mang lại nhiều lợi ích thiết thực.

Những lợi ích to lớn khi tiến hành đăng ký nhãn hiệu thực phẩm

Là một trong những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, thực phẩm hầu như xuất hiện ở khắp nơi với mẫu mã nhãn hiệu đa dạng. Do đó, việc đăng ký nhãn hiệu thực phẩm để tạo dựng hình ảnh về hàng hóa của bạn là việc vô cùng cần thiết giúp doanh nghiệp của bạn đạt được những lợi ích đồng thời cũng tránh được những nguy cơ sau:

Nhãn hiệu được đăng ký được pháp luật tuyệt đối bảo hộ trước các hành vi đạo nhái, làm giả, tạo tranh chấp nhãn hiệu từ các tổ chức cá nhân khác. Đồng thời đình chỉ mọi hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đối với tổ chức cá nhân vi phạm sử dụng nhãn hiệu của bạn.

Giúp tổ chức cá nhân sở hữu nhãn hiệu tự tin quảng cáo sản phẩm của mình mà không lo ngại các rào cản pháp lý về sở hữu trí tuệ. Sau khi đăng ký nhãn hiệu sản phẩm, doanh nghiệp có thể không cần ngần ngại mà phát triển quảng bá rộng ra thị trường quốc tế.

Đăng ký nhãn hiệu thực phẩm giúp tạo dựng hình ảnh của hàng hóa trong mắt người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng có thể dễ dàng phân biệt, tránh nhầm lẫn sản phẩm của doanh nghiệp của bạn với rất nhiều các sản phẩm cạnh tranh khác. Thương hiệu được pháp luật bảo hộ sẽ góp phần rất lớn tạo dựng nên lòng tin cho khách hàng.

Nhãn hiệu thực phẩm khẳng định xuất xứ, chất lượng của sản phẩm giúp người tiêu dùng yên tâm sử dụng, tạo dựng cầu nối cho liên kết giữa các sản phẩm khác trong phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp góp phần thúc đẩy sự phát triển đa dạng các mặt hàng của doanh nghiệp

Các thủ tục cần thiết  khi đăng ký nhãn hiệu thực phẩm

Bộ thủ tục đăng ký nhãn hiệu bao gồm các giấy tờ sau:

Đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu theo mẫu của Cục sở hữu trí tuệ

Mẫu nhãn hiệu muốn đăng ký

Giấy tờ pháp lý của chủ sở hữu nhãn hiệu

Giấy tờ chứng minh quyền nộp hồ sơ của chủ nhãn hiệu

chứng từ nộp phí và lệ phí

Mọi thủ tục có liên quan đến quá trình đăng ký nhãn hiệu thực phẩm sẽ được Phan Law tư vấn thực hiện chi tiết nhất. Tự hào là đại diện sở hữu trí tuệ được pháp luật công nhận, chúng tôi luôn cam kết đem đến sự hài lòng cho khách hàng sử dụng dịch đăng ký nhãn hiệu độc quyền của mình. Nhanh Chóng – Hiệu Quả – Tiết Kiệm tối đa cho khách hàng là phương châm mà Phan Law luôn hướng tới!

Mơ Nói Chuyện Với Người Đã Chết

Mơ thấy nói chuyện với người sống là điều hết sức bình thường, nhưng giấc mơ nói chuyện với người đã chết thì không hề đơn giản như thế. Bởi giấc mơ này còn ẩn chứa rất nhiều bí ẩn và ý nghĩa khác nhau. Tùy vào hình ảnh xuất hiện mà giấc mơ của bạn sẽ được giải đáp cụ thể đó là điềm lành hay điềm dữ. Cụ thể mơ nói chuyện với người đã chết được hiểu như sau:

Mơ thấy nói chuyện với người thân đã chết là người thân.

Khi mơ nói chuyện với người đã chết nhưng người đó là người thân của mình thì bạn đừng lo lắng vì giấc mơ này là điềm lành, dự báo thời gian sắp tới bạn sẽ gặp rất nhiều may mắn.

Mơ nói chuyện với người đã chết nhưng không quen biết.

Điều này nhắc nhở bạn đang bị kẻ xấu lợi dụng, xúi giục bạn làm những chuyện sai trái gây ảnh hưởng lớn tới tương lai của bạn.

Ngủ mơ thấy người đã chết tự nói chuyện một mìn

Giấc mơ này cực kì may mắn đối với bạn, bạn sẽ nhận được nhiều điều bất ngờ trong tương lai

Chiêm bao thấy người đã chết nói chuyện với nhau.

Ngủ mơ thấy người đã chết nói chuyện với nhau là giấc mơ cảnh báo điềm báo xấu. Trong thời gian sắp tới, bạn nên cẩn thận, đề phòng công việc làm ăn, các mối quan hệ vì có kẻ tiểu nhân đang muốn hãm hại bạn và những chuyện không vui sẽ xảy đến với bạn.

Mơ thấy điều này thì tương lai sắp tới của bạn sẽ gặp nhiều điều thuận lợi, con đường tiền tài và công danh trở nên hanh thông hơn.

Nằm ngủ mơ thấy người chết đang nói chuyện với một người khác.

Mộng thấy người đã chết nói chuyện với một người khác, giấc mơ bày báo hiệu sắp tới gia chủ sẽ có nhiều bất ngờ nhỏ trong cuộc sống của mình.

Mơ nói chuyện với người đã chết đánh con gì để trúng lớn?

– Mơ thấy người chết nói chuyện với nhau: 75- 29, 76-90

– Mơ thấy người chết nói chuyện một mình: 13 -56

– Nằm ngủ mơ thấy người chết đang nói chuyện với một người khác: 92 – 74

– Ngủ mơ thấy người đã chết tự nói chuyện một mình: 70 -07

Mơ Thấy Lươn Điềm Báo Gì, Đánh Con Gì Trúng Lớn? Mơ Thấy Gà Trống Đánh Con Gì? Điềm Báo Lành Hay Dữ?

Bạn đang xem bài viết Freud Đã Thực Sự Nói Gì (Phần 1) trên website Namtranpharma.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!